Trang gốc

Trang web BuddhaSasana

VU Times font

 

Saddhammasaṅgaha
Diệu Pháp Yếu Lược

Tác giả nguyên tác Pāḷi: Dhammakitti Mahāsāmi
Bản dịch tiếng Việt: Bhikkhu Indacanda (Trương đình Dũng)

Lưu ý: Ðọc với phông chữ VU Times (Viet-Pali Unicode)


Kính lễ đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, đấng Chánh Biến Tri

Chương Thứ Nhất

Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhất

1. Tôi xin đảnh lễ Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo là cội nguồn của các đức hạnh; sau đó xin trình bày tác phẩm "Diệu Pháp Yếu Lược" một cách khái quát.

2. Do năng lực phước báu đã làm đến ngôi Tam Bảo, xin cho các điều tai hại được tiêu tan không còn dư sót.

3. Sau khi thừa nhận đường lối giải thích của Chú Giải Tam Tạng về mọi lãnh vực, việc ghi chép lại Tam Tạng nhằm mục đích phát triển Giáo Pháp của bậc Chiến Thắng,

4. Tác phẩm tên "Diệu Pháp Yếu Lược" này được thực hiện một cách đầy đủ và rõ ràng bởi bậc trí tuệ nhằm đem lại niềm tin cho nhân loại. Xin các thiện trí thức đang ở nơi đây có lòng mong mỏi để nghe, xin hãy lắng nghe.

Phần giảng giải này nhằm mục đích làm sáng tỏ ý nghĩa của điều trên. Nghe rằng trước đây bốn a-tăng-kỳ và hơn một trăm ngàn kiếp, đức Thế Tôn của chúng ta thuở còn là Bồ Tát đã nhận được sự thọ ký ở đỉnh đầu trong sự hiện diện của hai mươi bốn vị Phật. Sau khi làm tròn đủ một cách đồng đều ba mươi pháp ba-la-mật (pāramī), Ngài đã đạt đến trí tuệ toàn hảo tối thượng. Sau khi giác ngộ, Ngài đã sống trong bốn mươi lăm năm và đã thuyết giảng tám mươi bốn ngàn Pháp Môn. Từ khi giúp nhóm chúng sanh đầu tiên vượt qua khỏi khu rừng rậm luân hồi cho đến lúc tế độ du sĩ Subhadda, Ngài đã hoàn thành tất cả các phận sự của vị Phật, rồi đã nằm xuống Vô Dư Niết Bàn trên chiếc giường của sự viên tịch giữa hai cây Long Thọ (Sālā) trong khu rừng Sālā tại Kusinārā.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

5. Trước đây, đấng Đại Hùng đã làm hài lòng hai mươi bốn vị Phật Toàn Giác, đầu tiên là vị Dīpaṅkara (Nhiên Đăng) và đã được các ngài thọ ký quả giác ngộ.

6. Sau khi đã làm tròn đủ tất cả các ba-la-mật, Ngài đã đạt đến quả vị Toàn Giác tối thượng. Đức Phật Gotama cao cả đã xóa đi nỗi khổ đau ở chúng sanh.

7. Sau khi hoàn thành mọi phận sự của đức Phật Toàn Giác, vị Lãnh Đạo thế gian đã đạt đến trạng thái an nhiên và viên tịch trên chiếc giường Vô Dư Niết Bàn.

Khi đức Thế Tôn là đấng Chúa Tể của thế gian Vô Dư Niết Bàn, bảy trăm ngàn vị tỳ khưu đã tụ hội tại nơi ấy. Sau khi đức Thế Tôn Vô Dư Niết Bàn được bảy ngày, trong lúc nhớ lại lời nói của kẻ xuất gia lúc tuổi già Subhadda, ngài trưởng lão Mahākassapa (Đại Ca Diếp) là vị trưởng thượng của hội chúng đã bảo các vị tỳ khưu rằng:

- Này các sư đệ, chúng ta nên đọc tụng lại Pháp và Luật.

Các vị tỳ khưu đã trả lời:

- Bạch ngài, nếu vậy xin trưởng lão hãy tuyển chọn các vị tỳ khưu.

Khi ấy, ngài Mahākassapa đã tuyển chọn năm trăm vị tỳ khưu A-la-hán (rồi nói rằng):

- Này các sư đệ, chúng ta nên đọc tụng lại Pháp và Luật trong khi an cư mùa mưa ở trong thành Rājagaha (Vương Xá).

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

8. Trong số bảy trăm ngàn vị trưởng thượng tỳ khưu lúc bấy giờ, trưởng lão Mahākassapa là vị thượng thủ của hội chúng.

9. Sau khi đấng Thập Lực bậc Đạo Sư của thế gian Vô Dư Niết Bàn được bảy ngày, vị ấy đã nhớ lại lời nói bôi nhọ của lão già Subhadda.

10. Sau khi tuyển chọn được năm trăm vị tỳ khưu trưởng thượng, xuất sắc, không còn lậu hoặc, ngài đại trưởng lão đã thực hiện cuộc Đại Kết Tập.

11. Vào ngày thứ nhì của tháng thứ hai trong mùa an cư, các vị trưởng lão ấy đã tụ hội lại trong một ngôi giảng đường tráng lệ.

Khi ấy, vào ngày thứ nhì các vị trưởng lão tỳ khưu sau khi hoàn tất việc độ ngọ đã sắp đặt y bát và tụ hội tại pháp đường được xây dựng bởi vua Ajātasattu (A Xà Thế). Sau khi hội chúng tỳ khưu đã an tọa, trưởng lão Mahākassapa đã nói với các vị tỳ khưu rằng:

- Này các sư đệ, chúng ta nên kết tập phần nào trước, Pháp hay Luật?

Các vị tỳ khưu đáp rằng:

- Bạch ngài Mahākassapa, Luật là mạng sống của Giáo Pháp. Khi nào Luật còn tồn tại thì Giáo Pháp còn tồn tại; do đó, chúng ta nên đọc tụng Luật trước tiên.

- Nên giao trách nhiệm cho vị nào rồi mới nên đọc tụng Luật?

- Nên giao trách nhiệm cho đại đức Upāli. Các vị đã trả lời.

Trưởng lão Mahākassapa đã đích thân chỉ định cho chính mình công việc hỏi Luật. Trưởng lão Upāli đã đích thân chỉ định cho chính mình công việc trả lời về Luật. Sau đó, ngài Upāli đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng lão, rồi ngồi lên Pháp tọa cầm lấy chiếc quạt được lắp cán sừng. Sau đó, ngài Mahākassapa đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của vị trưởng lão và đã hỏi ngài Upāli rằng:

- Này sư đệ, điều Bất Cộng Trụ (Pārājika) thứ nhất đã được công bố ở nơi nào?

- Bạch ngài, ở Vesālī.

- Có liên quan đến ai?

- Liên quan đến Sudinna, con trai của Kalandaka.

- Về sự việc gì?

- Về việc đôi lứa.

Sau đó, ngài Mahākassapa đã hỏi ngài Upāli về sự việc, đã hỏi về nguyên do, đã hỏi về nhân sự, đã hỏi về điều quy định, đã hỏi về điều quy định thêm, đã hỏi về cách thức phạm tội, và đã hỏi về cách thức không phạm tội của điều Bất Cộng Trụ (Pārājika) thứ nhất.

Tương tợ điều thứ nhất, ngài Mahākassapa đã hỏi về sự việc ...(như trên)..., đã hỏi về cách thức không phạm tội của điều thứ hai, của điều thứ ba, của điều thứ tư. Vị trưởng lão Upāli đã lần lượt trả lời mỗi khi được hỏi.

Sau khi đã kết tập xong bốn điều Bất Cộng Trụ (Pārājika) này, các vị đã quy định rằng: "Đây gọi là Chương Bất Cộng Trụ (Pārājikakaṇḍaṃ)." Các vị đã quy định mười ba điều Tăng Tàng (Saṅghādisesa) là "Chương Mười Ba Pháp (Terasakaṇḍaṃ)," hai điều học là "Bất Định (Aniyata)," ba mươi điều học là "Ưng Xả Đối Trị (Nissaggiya Pācittiya)," chín mươi hai điều học là "Ưng Đối Trị (Pācittiya)," bốn điều học là "Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīya)," bảy mươi lăm điều học là "Ưng Học Pháp (Sekhiya)," và bảy pháp là "Các pháp dàn xếp tranh tụng (Adhikaraṇasamatha)."

Phẩm Đại Phân Tích (Mahāvibhaṅga) đã được hoàn tất như thế. Trong Phẩm Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīvibhaṅga), các vị đã quy định tám điều học là: "Đây là Chương Bất Cộng Trụ (Pārājika-kaṇḍaṃ)," mười bảy điều học là "Chương Mười Bảy Pháp (Sattarasakaṇḍaṃ)," ba mươi điều học là "Ưng Xả Đối Trị (Nissaggiya Pācittiya)," một trăm sáu mươi sáu điều học là "Ưng Đối Trị (Pācittiya)," tám điều học là "Ưng Phát Lộ (Pāṭidesanīya)," bảy lăm điều học là "Ưng Học Pháp (Sekhiya)," và bảy pháp là "Các pháp dàn xếp tranh tụng (Adhikaraṇasamatha)." Phẩm Phân Tích Giới Tỳ Khưu Ni (Bhikkhunīvibhaṅga) đã được hoàn tất như thế. Cũng bằng phương thức ấy, các vị đã hoàn tất bộ Hợp Phần (Khandhaka) và bộ Tập Yếu (Parivāra).

Như vậy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi và trưởng lão Upāli đã trả lời toàn bộ về Tạng Luật (Vinaya-piṭaka) được kết tập theo thứ tự gồm có bộ Phân Tích Luật Lưỡng Phái (Ubhatovibhaṅga), bộ Hợp Phần (Khandhaka), bộ Tập Yếu (Parivāra). Khi chấm dứt phần vấn và đáp, năm trăm vị A-la-hán đã đồng thanh lập lại đúng y theo thứ tự đã được sắp xếp ở phần kết tập. Khi hoàn tất việc kết tập về Tạng Luật, quả đại địa cầu đã rúng động.

Sau đó, ngài Upāli đã để xuống chiếc quạt được lắp cán sừng, rời Pháp tọa, đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng thượng, rồi trở về chỗ ngồi của bản thân.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

12. Vị đại trưởng lão đã đích thân chỉ định cho chính mình nhiệm vụ hỏi Luật còn trưởng lão Upāli đã nhận nhiệm vụ trả lời về Luật.

13. Ngồi trên chỗ ngồi của trưởng lão, vị ấy đã hỏi vị kia về Luật; còn vị kia sau khi ngồi trên Pháp tọa đã trả lời vị kia về Luật.

14. Vị thông suốt Luật hạng nhất đã trả lời theo thứ tự các câu hỏi, và tất cả các vị hiểu biết phương thức trong Luật đã đồng thanh lập lại.

Sau khi đã kết tập xong Luật, ngài Mahākassapa có ý muốn kết tập Pháp nên đã hỏi các vị tỳ khưu rằng:

- Trong số các vị chuyên đọc tụng Pháp, nên giao trách nhiệm cho cá nhân nào rồi mới nên đọc tụng Pháp?

Các vị tỳ khưu đã trả lời:

- Nên giao trách nhiệm cho trưởng lão Ānanda.

Sau đó, trưởng lão Mahākassapa đã đích thân chỉ định cho chính mình nhiệm vụ hỏi về Pháp và trưởng lão Ānanda đã đích thân chỉ định cho chính mình nhiệm vụ trả lời về Pháp. Rồi ngài Ānanda đã từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y một bên vai, đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng lão, rồi ngồi lên Pháp tọa cầm lấy chiếc quạt được lắp cán sừng. Sau đó, trưởng lão Mahākassapa đã ngồi xuống trên chỗ ngồi của vị trưởng lão rồi hỏi trưởng lão Ānanda về Pháp rằng:

- Này sư đệ Ānanda, kinh Phạm Võng (Brahma-jāla) đã được thuyết tại đâu?

- Bạch ngài, ở giữa Rājagaha và Nalandā trong vườn thượng uyển Ambalaṭṭhikā.

- Có liên quan đến ai?

- Liên quan đến du sĩ ngoại đạo Suppiya và thanh niên Brahmadatta.

Sau đó, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Ānanda về duyên khởi đồng thời về nhân sự của bài kinh Phạm Võng (Brahma-jāla).

Rồi ngài đã lần lượt hỏi tiếp:

- Này đệ Ānanda, kinh Sa Môn Quả (Sāmañña-phala) đã được thuyết tại đâu?

- Thưa ngài, ở Rājagaha trong vườn xoài của Jīvaka.

- Đến người nào?

- Đến vua Ajātasattu (A Xà Thế), con trai của Vedehi.

Khi ấy, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi trưởng lão Ānanda về duyên khởi đồng thời đã hỏi về nhân sự của bài kinh Sa Môn Quả (Sāmañña-phala).

Chính bằng phương thức ấy, các vị đã kết tập Kinh Trường Bộ (Dīghanikāya) gồm có ba mươi bốn bài kinh bắt đầu với kinh Brahmajāla và nói rằng: "Đây gọi là Kinh Trường Bộ (Dīghanikāya)," rồi đã ủy thác cho trưởng lão Ānanda việc truyền tụng:

- Này đệ Ānanda, hãy dạy lại bộ kinh này cho các đệ tử của đệ.

Tiếp đến phần khác, các vị đã kết tập Kinh Trung Bộ (Majjhimanikāya) gồm có một trăm năm mươi hai bài kinh bắt đầu với kinh Pháp Môn Căn Bản (Mūlapariyāyasutta), rồi đã ủy thác cho các đệ tử của vị trưởng lão Tướng Quân Chánh Pháp Sāriputta:

- Các người hãy bảo quản bộ kinh này.

Tiếp đến phần khác, các vị đã kết tập Kinh Tương Ưng Bộ (Samyuttanikāya) gồm có bảy ngàn bảy trăm sáu mươi hai bài kinh bắt đầu với kinh Vượt Khỏi Bộc Lưu (Oghataranasutta), rồi đã ủy thác cho vị trưởng lão Mahākassapa:

- Bạch ngài, xin ngài hãy dạy lại bộ kinh này cho các đệ tử của ngài.

Tiếp đến phần khác, các vị đã kết tập Kinh Tăng Chi Bộ (Aṅguttaranikāya) gồm có chín ngàn năm trăm năm mươi bảy bài kinh bắt đầu với kinh Sự Xâm Chiếm và Ngự Trị Tâm (Cittapariyādānasutta), rồi đã ủy thác cho vị trưởng lão Anuruddha:

- Hãy dạy lại bộ kinh này cho các đệ tử của ngài.

Tiếp đến phần khác, các vị đã kết tập Kinh Tiểu Bộ (Khuddakanikāya) với mười lăm phần khác biệt gồm có Kinh Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna), Kinh Phật Thuyết Như Vầy (Itivuttaka), Kinh Tập (Suttanipāta), Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu), Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu), Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā), Trưởng Lão Ni Kệ (Therigāthā), Chuyện Tiền Thân (Jātaka), Nghĩa Thích (Niddesa), Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidā), Thí Dụ (Apadāna), Phật Sử (Buddhavaṃsa), Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka), rồi đã quy định rằng: "Đây gọi là Tạng Kinh (Suttanta-piṭaka)."

Tiếp đến phần khác, các vị đã kết tập bảy phần riêng biệt gồm bảy tác phẩm lớn là Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), Phân Tích (Vibhaṅga), Chất Ngữ (Dhātukathā), Nhân Chế Định (Puggalapaññatti), Ngữ Tông (Kathāvatthu) [*], Song Đối (Yamaka), và Vị Trí (Paṭṭhāna), rồi đã quy định rằng: "Đây gọi là Tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhammapiṭaka)."

[* Đại hội kết tập này chưa có tác phẩm Kathāvatthu, đến đại hội kết tập lần thứ ba mới có -- ND]

Như thế, trưởng lão Mahākassapa đã hỏi và trưởng lão Ānanda đã trả lời toàn bộ được kết tập lại theo thứ lớp. Khi chấm dứt phần vấn và đáp, năm trăm vị A-la-hán đã đồng thanh lập lại phần kết tập. Khi hoàn tất việc kết tập về Pháp, quả đại địa cầu đã rúng động.

Sau đó, ngài Ānanda đã để xuống chiếc quạt được lắp cán sừng, rời Pháp tọa, đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng thượng, rồi trở về chỗ ngồi của bản thân.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

15. Vị trưởng lão ấy đã đích thân chỉ định cho chính mình rồi đã hỏi về Pháp đến vị hạng nhất trong các vị đa văn và là vị giữ gìn kho báu của bậc Đại Ẩn Sĩ.

16. Tương tợ như thế, trưởng lão Ānanda đã đích thân chỉ định cho chính mình rồi đi đến Pháp tọa và trả lời về Pháp không chút thiếu sót.

Toàn bộ lời dạy của đức Phật nên được biết là có một phần khi nói về bản chất, có hai phần khi nói về Pháp và Luật, có ba phần khi nói về Phần Đầu Phần Giữa và Phần Kết, cũng như vậy khi nói về Tạng (Piṭaka), có năm phần khi nói về Bộ Kinh (Nikāya), có chín phần khi nói về Thể (Aṅga), có tám mươi bốn ngàn nếu nói về Pháp Uẩn.

Thế nào là có một phần khi nói về bản chất? Bởi vì kể từ khi đức Thế Tôn chứng đạt Chánh Đẳng Giác vô thượng cho đến khi Ngài Vô Dư Niết Bàn trong cảnh giới Niết Bàn không còn dư sót; trong khoảng thời gian bốn mươi lăm năm ấy, tất cả những gì Ngài giảng dạy cho chư thiên, nhân loại, các loài rồng, dạ-xoa, v.v... nhằm mục đích giáo huấn hoặc phê phán chỉ có một bản chất là bản chất giải thoát mà thôi. Như thế khi đề cập đến bản chất thì có một phần.

Thế nào là có hai phần khi nói về Pháp và Luật? Luật tức là Tạng Luật, phần còn lại về lời dạy của đức Phật gọi là Pháp. Như thế khi đề cập đến Pháp và Luật thì có hai phần.

Thế nào là có ba phần khi nói về Phần Đầu, Phần Giữa, và Phần Kết? Trong trường hợp này:

17. Ta lang thang luân hồi đã nhiều kiếp sống, tìm kiếm người thợ xây nhà nhưng không gặp, sự sanh là nỗi khổ cứ tiếp diễn mãi.

18. Giờ ta đã tìm ra người thợ xây nhà rồi, ngươi không còn kiến tạo nhà được nữa. Tất cả cột kèo của ngươi đã bị gãy đổ, mái nhà đã bị phá tan. Ta đã chứng đạt sự đoạn trừ tham ái, tâm ta đã đạt Niết Bàn.

Đây là lời nói đầu tiên của đức Phật. Một số vị đề cập đến lời kệ cảm hứng trong phần Khandhaka "Giờ đây đích thực Pháp đã hiện khởi!" Điều này cần được hiểu rằng vào ngày trăng tròn, khi đang quán xét về lý duyên khởi với tâm trí đang tràn ngập nỗi hân hoan của sự chứng đạt quả vị Toàn Giác, bài kệ cảm hứng ấy chỉ được khởi lên (trong trí Ngài).

Vào thời điểm Vô Dư Niết Bàn, Ngài đã nói rằng: "Này các tỳ khưu, giờ ta dạy bảo các ngươi rằng: Các pháp có tánh hoại diệt là pháp hữu vi, hãy nỗ lực để chứng đạt chớ có dễ duôi," đó là lời nói cuối cùng của đức Phật.

Điều gì đức Phật nói lên vào khoảng giữa của hai thời điểm ấy được gọi là lời dạy của đức Phật thuộc Phần Giữa.

Như thế khi đề cập đến Phần Đầu, Phần Giữa, và Phần Kết thì có ba phần.

Thế nào là có ba phần khi nói về Tạng? Bởi vì toàn bộ gồm có ba phần riêng biệt: Tạng Luật, Tạng Kinh, và Tạng Vi Diệu Pháp.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

19. Trong đó, tạng Luật được xem là gồm có Chương Pārājika, Pācittiya, thêm vào Phân Tích Giới Tỳ khưu ni, Đại Phẩm, rồi Tiểu Phẩm, và Tập Yếu.

Phần này được gọi là Tạng Luật.

20. Ba mươi bốn bài kinh được kết tập làm ba chương; "Đó là Kinh Trường Bộ," tức là phần thứ nhất theo sự sắp xếp.

21. Kinh Trung Bộ gồm có mười lăm chương, trong đó có một trăm năm mươi hai bài kinh.

22. Bảy ngàn bảy trăm sáu mươi hai bài kinh được kết tập thành Bộ Tương Ưng.

23. Chín ngàn năm trăm năm mươi bảy bài kinh là số lượng bài kinh trong Bộ Tăng Chi.

24. Kinh Tiểu Tụng (Khuddakapāṭha), Kinh Pháp Cú (Dhammapada), Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna), Kinh Phật Thuyết Như Vầy (Itivuttaka), Kinh Tập (Suttanipāta), Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu), Chuyện Ngạ Quỷ (Petavatthu),

25. Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragāthā), Trưởng Lão Ni Kệ (Therigāthā), Chuyện Tiền Thân (Jātaka), Nghĩa Thích (Niddesa), Vô Ngại Giải Đạo (Paṭisambhidā), Thí Dụ (Apadāna), Phật Sử (Buddhavaṃsa), Hạnh Tạng (Cariyāpiṭaka). Mười lăm phần riêng biệt ấy được xem là Kinh Tiểu Bộ.

Phần nầy được gọi là Tạng Kinh.

26. Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī), Phân Tích (Vibhaṅga), và cuốn khác nữa là Chất Ngữ (Dhātukathā), thêm vào đó là Nhân Chế Định (Puggalapaññatti), và cuốn Ngữ Tông (Kathāvatthu).

27. Song Đối (Yamaka), và Vị Trí (Paṭṭhāna), bảy cuốn riêng biệt này đã được giảng dạy bởi bậc Chánh Đẳng Giác và được gọi là Tạng Vi Diệu Pháp.

Phần này được gọi là Tạng Vi Diệu Pháp. Như thế khi đề cập đến Tạng thì có ba phần.

Thế nào là có năm phần khi nói về Bộ Kinh (Nikāya)? Tức là Kinh Trường Bộ, Kinh Trung Bộ, Kinh Tương Ưng Bộ, Kinh Tăng Chi Bộ, và Kinh Tiểu Bộ.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

28. Ngoại trừ bốn Bộ Kinh bắt đầu với Kinh Trường Bộ, v.v... các lời dạy khác của đức Phật được xem là Kinh Tiểu Bộ.

Như thế khi đề cập đến Bộ Kinh thì có năm phần.

Thế nào là có chín phần khi nói về Thể (Aṅga)? Bởi vì toàn bộ gồm có chín hình thức khác biệt, đó là sutta, geyya, veyyākaraṇa, gāthā, udāna, itivuttaka, jātaka, abbhūtadhamma, vedalla. Trong trường hợp này, Ubhatovibhaṅga, Niddesa, Khandhaka, Parivāra, các bài kinh Maṅgalasutta, Ratanasutta, Nalakasutta, Tuvaṭakasutta trong Suttanipāta (Kinh Tập), và các lời dạy của đấng Như Lai có tựa đề là Kinh (Sutta) thì được xếp vào thể Kinh (Sutta). Các bài kinh có xen các bài kệ vào được biết là thể Geyya; đặc biệt toàn bộ Thiên Có Kệ (Sagāthāvagga) trong Kinh Tương Ưng Bộ là thể Geyya. Toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp, các bài kinh không có xen các bài kệ, và các lời dạy khác của đức Phật không thuộc tám loại trên được xếp vào thể Veyyākaraṇa. Kinh Pháp Cú, Trưởng Lão Tăng Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, các bài có tên là kinh nhưng chỉ là kệ trong Kinh Tập (Suttanipāta) thì được xếp vào thể Gāthā. Tám mươi hai bài kinh liên quan đến các bài kệ do tuệ giác hoan hỷ được xếp vào thể Udāna. Một trăm mười hai bài kinh được giới thiệu bằng: "Vuttaṃ h’ etaṃ Bhagavatā ti" (Đức Thế Tôn thuyết về điều ấy như vầy) thì được xếp vào thể Itivuttaka. Năm trăm năm mươi bài kinh Bổn Sanh bắt đầu bằng Bổn Sanh Apannaka được xếp vào thể Jātaka. Tất cả các bài kinh liên quan đến pháp kỳ diệu phi thường và được giới thiệu như sau: "Này các tỳ khưu, có bốn pháp kỳ diệu phi thường ở Ānanda," được xếp vào thể Abbhūtadhamma. Tất cả các bài kinh được hỏi và được liên tục ghi nhận trong sự hiểu biết và hoan hỷ như các bài kinh Cullavedalla, Mahāvedalla, Sammādiṭṭhi, Sakkapañhā, Saṅkhāra-bhājaniya, Mahāpuṇṇama, v.v...được xếp vào thể Vedalla. Như thế khi đề cập đến Thể thì có chín phần.

Thế nào là có tám mươi bốn ngàn phần khi nói về Pháp Uẩn?

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

29. Tôi đã học tám mươi hai ngàn từ đức Phật, hai ngàn từ vị tỳ khưu (Sāriputta), tổng cộng các pháp này là tám mươi bốn ngàn.

30. Trong Tạng Luật có hai mươi mốt ngàn Pháp Uẩn, trong Tạng Kinh có hai mươi mốt ngàn Pháp Uẩn, và trong Tạng Vi Diệu Pháp có bốn mươi hai ngàn Pháp Uẩn.

Như thế, bằng cách giải nghĩa theo Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần riêng biệt.

Trong trường hợp này, bài kinh có một chủ đề (anusandhika) thì tính một Pháp Uẩn, bài kinh nào có nhiều chủ đề thì tính nhiều Pháp Uẩn. Như thế, việc tính đếm Pháp Uẩn tức là đề cập đến chủ đề. Trong những phần Kệ (gāthā), mỗi câu hỏi hay chất vấn là một Pháp Uẩn và câu trả lời là một Pháp Uẩn. Trong tạng Vi Diệu Pháp, mỗi một phần chia chẻ gồm có một nhị đề hoặc tam đề và mỗi một phần chia chẻ theo loại tâm được gọi là một Pháp Uẩn. Trong tạng Luật thì có phần câu chuyện (vatthu), có phần tiêu đề (mātikā), có phần phân tích từ ngữ, có phần phạm tội, có phần không phạm tội, có phần phán xét; trong trường hợp này, cứ mỗi một phần được xem là một Pháp Uẩn. Như thế, khi đề cập đến Pháp Uẩn thì có tám mươi bốn ngàn phần.

Cứ như thế, lời dạy của đức Phật gồm nhiều phần khác biệt đã được các vị A-la-hán, có chủ tọa là ngài Mahākassapa, sau khi sắp xếp thành nhóm tương xứng: "Đây là Pháp, đây là Luật," v.v... đã đọc tụng trong bảy tháng.

Khi kết thúc cuộc kết tập, đại địa cầu này với nước biển bao bọc xung quanh đã xảy ra nhiều sự rung động, lay chuyển, lắc lư khác nhau và có vô số điều kỳ diệu y như đang bày tỏ sự tán thưởng do sự hoan hỷ sanh khởi: "Giáo Pháp này của đấng Thập Lực được vận hành tròn đủ trong khoảng thời gian năm ngàn năm nhờ vào trưởng lão Mahākassapa."

Việc này được gọi là lần kết tập thứ nhất.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

31. Trong thế gian này, việc nào do năm trăm (vị) làm, việc ấy được gọi là "thuộc về năm trăm vị;" và việc nào được đích thân các vị trưởng lão thực hiện được gọi là "thuộc về các vị trưởng lão."

32. Như vậy cuộc kếp tập Giáo Pháp đã được hoàn tất trong bảy tháng chính vì lợi ích của tất cả thế gian và nhằm đem lại lợi ích cho toàn thể thế gian.

33. Nhờ trưởng lão Mahākassapa, Giáo Pháp này của đấng Thiện Thệ được vận hành tròn đủ năm ngàn năm.

34. Khi cuộc kết tập được hoàn tất, đại địa cầu với nước bao bọc xung quanh đã dấy lên niềm hoan hỷ tột độ và đã rúng động sáu lần.

35. Vô số hiện tượng kỳ diệu với nhiều hình thức đã xuất hiện ở thế gian. Cuộc kết tập này do chính các vị trưởng lão thực hiện nên đây là truyền thống của Thượng Tọa Bộ.

36. Các vị trưởng lão ấy đã thực hiện cuộc kết tập lần thứ nhất và đã đem lại nhiều lợi ích cho chúng sanh. Khi sống hết tuổi thọ, tất cả đã Niết Bàn.

37. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt trạng thái bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải về Cuộc Đại Kết Tập Lần Thứ Nhất
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Hai

Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhì

Thế rồi ngày đêm lần lượt qua đi đến khi đức Thế Tôn đã Vô Dư Niết Bàn được một trăm năm, các vị tỳ khưu nhóm Vajjiputtaka ở Vesālī đã phổ biến trong thành Vesālī mười sự việc. Mười sự việc ấy là gì? Được phép cất giữ muối trong ống sừng, được phép ăn khi bóng mặt trời đã quá hai ngón tay, được phép đi vào làng lúc phi thời, được phép hành lễ Uposatha riêng rẽ, được phép thực hiện hành sự không đủ tỳ khưu, được phép duy trì sở hành của thầy tổ, được phép uống sữa chưa được khuấy phi thời, được phép uống nước trái cây lên men, được phép sử dụng tọa cụ không có viền quanh, được phép cất trữ vàng bạc [Mười sự việc này được ghi lại theo nghĩa - ND]. Vị vua tên Kālāsoka con trai của Susunāga đã ủng hộ các vị ấy.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

1. Vào cuối năm thứ mười của triều vua Kālāsoka, như thế là được một trăm năm kể từ khi đấng Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn.

2. Lúc bấy giờ, nhiều vị tỳ khưu vô liêm sỉ nhóm Vajjiputtaka ở thành Vesālī đã phổ biến là: "Được phép làm" về mười sự việc.

Vào lúc bấy giờ, ngài Yasa con trai của Kākaṇḍa đang đi du hành ở trong xứ Vajjī đã nghe rằng: "Nghe nói các vị tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī phổ biến mười sự việc" trong lúc suy nghĩ: "Điều ấy không hợp lý! Một khi biết được sự làm hư hoại lời giáo huấn của đấng Thập Lực thì ta không thể làm ngơ được. Ta cần phải ngăn cản các vị nói sai Giáo Pháp và làm cho Giáo Pháp trở nên rạng rỡ" rồi đã đến trú tại Vesālī. Nơi đó, ngài Yasa con trai của Kākaṇḍa đã trú tại Mahāvana (Đại Lâm) nơi giảng đường Kūtāgāra ở trong thành Vesālī.

Lúc bấy giờ, vào ngày Uposatha (Bố Tát) các vị tỳ khưu Vajjiputtaka ở Vesālī đã sử dụng chậu đồng chứa đầy nước đặt ở giữa hội chúng tỳ khưu rồi nói với các cư sĩ ở Vesālī đang đi qua lại như vầy: "Này các đạo hữu, hãy bố thí cho hội chúng một đồng tiền vàng (kahāpaṇa), một nửa đồng, một pāda, một māsaka, hoặc một đồng bạc; hội chúng sẽ sử dụng cho các vật dụng cần thiết."

Tất cả sự việc ấy đã được nêu ra trong cuộc kết tập với sự hiện diện của bảy trăm vị tỳ khưu không hơn không kém. Do đó, sự kiện ấy được gọi là "Cuộc kết tập về Luật của bảy trăm vị."

Mười hai ngàn vị tỳ khưu đã tụ hội lại trong cuộc hội nghị ấy. Giữa các vị đã tụ hội lại do công của ngài Yasa con trai của Kākaṇḍa, ngài Revata đã hỏi và trưởng lão Sabbakāmī đã trả lời về Luật; mười sự việc ấy đã được xác định và sự tranh tụng được chấm dứt.

Sau đó, các vị trưởng lão đã nói rằng: "Chúng ta sẽ đọc tụng Pháp và Luật;" rồi đã chọn lựa bảy trăm vị tỳ khưu A-la-hán thông suốt Tam Tạng và thành đạt tuệ phân tích đến tụ hội tại tu viện Vāluka trong thành Vesālī. Cũng giống như lần được kết tập bởi trưởng lão Mahākassapa, các vị đã giải quyết thông suốt các điều hoài nghi về lời giáo huấn và đã đọc tụng lại tất cả Pháp và Luật được phân tích theo Tạng, theo Bộ Kinh, theo Thể, và theo Pháp Uẩn. Cuộc kết tập ấy đã được hoàn tất trong tám tháng.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

3. Trên đời, việc được thực hiện bởi bảy trăm vị nên gọi là "Cuộc Kết Tập Bảy Trăm Vị." Vì trước đây đã có làm nên được gọi là "Lần Thứ Nhì."

4. Cuộc kết tập nổi tiếng đã được đọc tụng bởi các vị trưởng lão Sabbakāmī, Sāḷha, Revata, Khujjasobhita,

5. Yasa, và Sānasambhūta. Các vị trưởng lão ấy là đệ tử của trưởng lão Ānanda trước đây đã được thấy đức Như Lai.

6. Cả hai vị Sumana và Vāsabhagāmī được biết là đệ tử của ngài Anuruddha trước đây đã được thấy đức Như Lai.

7. Tất cả các vị trưởng lão đọc tụng trong cuộc kết tập lần thứ nhì đều đã dứt bỏ các lậu hoặc, đã đặt gánh nặng xuống, và đã hoàn tất mọi phận sự.

8. Các vị trưởng lão ấy đứng đầu là vị Sabbakāmī đều có đại thần lực đã tự phóng hỏa thành những khối lửa ở trên không và thành tựu Vô Dư Niết Bàn.

9. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt quả vị bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Nhì
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Ba

Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Ba

Hai trăm hai mươi tám năm kể từ khi bậc Chánh Đẳng Giác Vô Dư Niết Bàn, tất cả các ngoại đạo khác với số lượng sáu mươi ngàn đều bị thiếu thốn về lợi lộc và danh vọng thậm chí không nhận được thức ăn và y phục. Do mong muốn lợi lộc và danh vọng nên họ đã cạo đầu, khoác y ca-sa, đi lại ở các trú xá, và vào dự các hành sự như là lễ Uposatha (Bố Tát). Họ đã gây nên sự ung nhọt, ô nhiễm, lộn xộn trong Giáo Hội; do đó, trên toàn bộ đảo Jambu này, sáu năm qua hội chúng tỳ khưu đã không thực hiện hành sự Uposatha.

Khi ấy, vị minh vương Asoka (A Dục) lên ngôi đã được mười lăm năm. Đức vua có ý định thanh lọc Giáo Hội nên đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu tại tu viện Asoka. Trong buổi triệu tập đó, trưởng lão Moggaliputtatissa là vị trưởng thượng trong hội chúng đã giảng giải về giáo lý cho đức vua. Đức vua đã hỏi tất cả các vị ngoại đạo, và biết được rằng: "Những người này không phải là tỳ khưu, những người này là ngoại đạo," nên đã bố thí cho vải trắng rồi trục xuất. Sau đó, đức vua nói rằng: "Bạch ngài, giờ đây Giáo Hội đã được thanh tịnh, xin thỉnh hội chúng tỳ khưu thực hiện hành sự Uposatha," rồi đã bố trí việc bảo vệ và trở vào thành phố. Hội chúng hợp nhất đã tụ hội lại và thực hiện lễ Uposatha.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

1. Sau khi bậc Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn được hai trăm hai mươi tám năm, vua Asoka là chúa tể ở trái đất này.

2. Nơi xứ ấy, vị bảo hộ trái đất đã học tập giáo lý chính thống của bậc Toàn Giác trong khi ngự ở khu vườn thượng uyển tuyệt đẹp trong thời gian bảy ngày.

3. Chính trong bảy ngày ấy, vị chúa tể của trái đất đã phái đi hai dạ-xoa để triệu tập toàn bộ tỳ khưu ở trái đất này.

4. Vào ngày thứ bảy, đức vua đã đi đến tu viện lộng lẫy của cá nhân và cho lệnh triệu tập hội chúng tỳ khưu không thiếu một ai.

5. Sau khi hỏi tất cả các vị tà kiến ngoại đạo ấy, vị chúa tể của trái đất đã nhận ra và trục xuất sáu mươi ngàn người.

6. Rồi vị chúa tể của trái đất đã nói với vị trưởng lão rằng: "Bạch ngài, hội chúng đã được thanh tịnh; vì thế, xin hội chúng hãy tiến hành lễ Uposatha."

7. Sau khi đã bố trí sự bảo vệ cho hội chúng, vị chúa tể đã về lại thành phố xinh đẹp. Khi ấy, hội chúng đã được hợp nhất nên đã tiến hành lễ Uposatha.

Trong lần tụ hội ấy, trưởng lão Moggaliputtatissa trong khi phủ nhận các học thuyết khác đã trình bày tác phẩm Kathāvatthu. Vị ấy đã tuyển chọn được một ngàn vị tỳ khưu thông thạo Tam Tạng và pháp Học, có tuệ phân tích sắc bén, và có Tam Minh trong số sáu trăm ngàn vị tỳ khưu.

Giống như trưởng lão Mahākassapa và trưởng lão Yasa đã kết tập Pháp và Luật được phân tích theo Tạng, theo Bộ Kinh, theo Thể, và theo Pháp Uẩn; tương tợ như thế, trong khi trùng tụng lại Pháp và Luật, vị trưởng lão Moggaliputtatissa đã thanh lọc tất cả các điều sai trái trong Giáo Pháp và đã thực hiện cuộc kết tập lần thứ ba.

Khi kết thúc cuộc kết tập, quả đại địa cầu đã rung động bằng nhiều cách. Lần kết tập này đã kết thúc trong chín tháng.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

8. Giống như trưởng lão Mahākassapa và trưởng lão Yasa đã thực hiện cuộc kết tập về Giáo Pháp, trưởng lão Tissa cũng đã làm việc ấy như thế.

9. Trong hội trường của cuộc kết tập ấy, trưởng lão Tissa đã trình bày tác phẩm Kathāvatthu phủ nhận các học thuyết khác.

10. Như vậy cuộc kết tập Giáo Pháp ấy gồm một ngàn vị tỳ khưu đã được hoàn tất trong chín tháng với sự hộ trì của vua Asoka.

11. Sau khi thực hiện cuộc kết tập lần thứ ba đem lại nhiều lợi ích cho thế gian, tất cả các vị trưởng lão ấy đã sống hết tuổi thọ rồi Niết Bàn.

12. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt quả vị bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Ba
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Tư

Giảng Giải về sự Thọ Lãnh Tu Viện Cetiyapabbata

Sau đây là lời dẫn giải liên quan đến sự việc trên: Nghe rằng trưởng lão Moggaliputtatissa sau khi thực hiện cuộc kết tập lần thứ ba này đã suy nghĩ như vầy: "Trong tương lai Giáo Pháp có thể phát triển bền vững ở nơi đâu?" Và vị ấy đã khẳng quyết điều này: "Giáo Pháp sẽ phát triển bền vững ở các quốc độ lân bang."

Vị ấy đã trao nhiệm vụ rồi đã phái các vị tỳ khưu ấy một số đi chỗ này, một số đi chỗ nọ. Vị ấy đã phái trưởng lão Majjhantika đến xứ Kasmīra và Gandhāra: "Ngươi hãy đi đến xứ sở đó và phát triển Giáo Pháp ở nơi đó." Vị ấy cũng đã nói y như thế rồi phái trưởng lão Mahādeva đến Mahisamaṇḍala, trưởng lão Rakkhita đến xứ Vanavāsi, trưởng lão Dhammarakkhita người xứ Yona đến xứ Aparantaka, trưởng lão Mahādhammarakkhita đến Mahāraṭṭha, trưởng lão Mahārakkhita đến quốc độ Yona, trưởng lão Majjhima đến vùng Hi Mã Lạp Sơn, trưởng lão Soṇaka và trưởng lão Uttara đến Suvaṇṇabhūmi, và phái đệ tử của mình là trưởng lão Mahinda cùng với các trưởng lão Iṭṭhiya, Uttiya, Sambala, Bhaddasāla đến đảo Laṅkā (Tích Lan): "Hãy đi đến đảo Laṅkā và phát triển Giáo Pháp ở đó."...

Tất cả các vị ấy khi đi đến xứ này xứ nọ ở các phương đã đi thành nhóm năm người: "Trong các quốc độ lân bang, nhóm năm vị là đủ số lượng cho hành sự tu lên bậc trên."

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

1. Vị trưởng lão Moggaliputta ấy là vị đã làm rạng rỡ lời giáo huấn của bậc Chiến Thắng sau khi đã hoàn thành cuộc kết tập và quán xét về tương lai.

2. Vị ấy đã quán thấy sự pháp triển của Giáo Pháp ở các xứ lân bang nên vào tháng Kattika đã phái đi các vị trưởng lão một số đến nơi này, một số đến nơi khác.

3. Vị trưởng lão Majjhantika đã được phái đến xứ Kasmīra và Gandhāra, còn trưởng lão Mahādeva đã được phái đến xứ Mahisamaṇḍala.

4. Vị trưởng lão tên Rakkhita đã được phái đến xứ Vanavāsi; cũng vậy, trưởng lão tên Dhammarakkhita người xứ Yona đến xứ Aparantaka.

5. Vị trưởng lão tên Mahādhammarakkhita được phái đến xứ Mahāraṭṭha, còn vị trưởng lão Mahārakkhita đến quốc độ Yona.

6. Vị trưởng lão Majjhima được phái đến vùng Hi Mã Lạp Sơn, còn chính hai vị trưởng lão Soṇa và Uttara đến Suvaṇṇabhūmi.

7. Còn vị trưởng lão danh tiếng Mahinda cùng với các đệ tử của bản thân là vị trưởng lão Iṭṭhiya, Uttara, Sambala, và Bhaddasāla,

8. Năm vị trưởng lão đã được phái đi (với lời chỉ dạy rằng): "Các vị hãy phát triển lời giáo huấn tuyệt vời của bậc Chiến Thắng ở xứ Laṅkā tuyệt vời ấy."

Phần trưởng lão Mahinda, được vị bổn sư và hội chúng tỳ khưu yêu cầu rằng: "Ngươi hãy đi đến hòn đảo Laṅka và thiết lập Giáo Pháp ở đó," nên đã suy nghĩ rằng: "Có phải bây giờ là lúc để đi đến đảo Laṅkā không?"

Khi ấy, chúa trời Sakka đã đi đến gặp trưởng lão Mahinda và nói rằng:

- Thưa ngài, đức vua Muṭasīva đã băng hà, giờ vị đại vương Devānampiyatissa đang trị vì quốc độ. Vả lại, bậc Chánh Đẳng Giác đã tiên tri về ngài rằng: "Trong ngày vị lai, vị tỳ khưu tên Mahinda sẽ gieo niềm tin ở đảo Laṅkā này." Thưa ngài, vì thế bây giờ là thời điểm để đi đến hòn đảo quý giá ấy, và ta sẽ là bạn đồng hành với ngài.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

9. Khi ấy, vị trưởng lão tên Mahinda là trưởng lão của hội chúng gồm có các vị tên là Iṭṭhiya, Uttiya, Bhaddasāla, và Sambala.

10. Và sa di Sumana là vị có đại thần lực với sáu loại thần thông; vị thứ bảy trong nhóm là cư sĩ Bhaṇḍuka đã chứng ngộ Chân Đế.

11. Các vị trưởng lão được phái đi đã bay lên không trung từ đảo Jambu rồi đã đáp xuống thành phố tuyệt hảo giống như những con chim thiên nga chúa vậy.

12. Các vị đã cư ngụ ở phía trước của thành phố hạng nhất ấy trên đỉnh của ngọn núi giống như những con chim thiên nga sống ở đám mây trên cao chót vót của bầu trời.

Như vậy, sau khi bậc Chánh Đẳng Giác Vô Dư Niết Bàn được hai trăm ba mươi sáu năm, trưởng lão Mahinda cùng với các vị như là Iṭthiya, v.v... được thông báo rằng: "Ngươi hãy định cư ở hòn đảo này" đã đi đến và cư ngụ ở núi Missaka.

Cũng trong ngày hôm ấy, ở trên hòn đảo Laṅkā là ngày lễ hội Jeṭṭhamūla. Đại vương Devānampiyatissa đã tuyên bố rằng: "Hãy tổ chức lễ hội" và ra lệnh cho triều thần rồi cùng đoàn tùy tùng bốn mươi ngàn người rời thành phố đi đến núi Missaka với ý định tiêu khiển việc săn thú rừng. Lúc bấy giờ, một vị thiên thần ngự ở ngọn núi ấy (nghĩ rằng): "Ta sẽ tạo điều kiện để nhà vua gặp các vị trưởng lão" nên đã biến thành con nai màu đỏ đi lại không xa nhà vua lắm như là đang ăn cỏ.

Khi ấy, nhà vua đã gây nên tiếng động ở dây cung. Con nai chạy thoát thân theo lối đi đến Ambatthala. Nhà vua trong lúc đuổi theo sát phía sau đã lên đến Ambatthala. Rồi con nai đã biến mất không xa các vị trưởng lão lắm.

Khi thấy nhà vua đang đi lại gần, trưởng lão Mahinda đã chú nguyện: "Hãy để nhà vua thấy ta chớ không thấy các vị khác," rồi nói rằng: "Này Tissa! Này Tissa! Hãy đi đến đây." Nghe vậy, nhà vua đã suy nghĩ: "Không ai sanh ra trên hòn đảo này có thể xưng hô với ta bằng tên "Tissa," vậy mà kẻ mặc vải choàng cắt ngang dọc, đầu cạo, khoác y ca-sa lại dám gọi ta bằng tên. Kẻ này là ai, người hay là phi nhân đây?"

Vị trưởng lão đã lên tiếng:

13. Tâu Đại Vương, chúng tôi là sa-môn, đệ tử của đấng Pháp Vương. Vì lòng bi mẫn đến bệ hạ nên đã từ đảo Jambu đi đến đây.

Khi nghe lời nói của vị trưởng lão, nhà vua lập tức bỏ vũ khí xuống rồi đã đến ngồi ở một bên nói lời chào hỏi thân thiện. Chuyện kể như vầy:

14. Sau khi hạ vũ khí xuống, đức vua đã đi đến bên cạnh rồi ngồi xuống trao đổi thân thiện về nhiều vấn đề.

Vào giây phút ấy, bốn mươi ngàn tùy tùng đã đến nơi và đứng quanh nhà vua. Khi ấy, vị trưởng lão đã làm cho nhà vua thấy được sáu vị kia. Nhà vua khi thấy họ đã hỏi rằng:

- Những người này đến khi nào vậy?

- Tâu Đại Vương, họ đã đến cùng với bần tăng.

- Hiện giờ ở đảo Jambu cũng có những vị sa-môn khác như thế này hay sao?

- Tâu Đại Vương, hiện nay đảo Jambu đang rực rỡ với bóng dáng của y ca-sa và được tràn ngập bởi vô số hiền triết.

Nói xong, vị ấy đã thốt lên bài kệ này:

15. Có nhiều đệ tử của đức Phật có thần thông, tam minh, biết được tâm của người khác, không còn lậu hoặc, và là bậc A-la-hán.

- Bạch ngài đã đến đây bằng đường nào?

- Tâu Đại Vương, không phải bằng đường thủy cũng không phải bằng đường bộ.

Nhà vua đã hiểu được rằng: "Các vị đã đến bằng đường không trung."

Vị trưởng lão đã hỏi câu hỏi về ví dụ trái xoài và nhà vua đã trả lời.

Khi ấy, vị trưởng lão (nghĩ rằng): "Đức vua là bậc trí tuệ có thể hiểu được Giáo Pháp" nên đã thuyết Tiểu Tượng Tích Dụ Kinh (Cūḷahatthipadopamasuttaṃ). Khi chấm dứt bài thuyết Pháp, nhà vua và bốn mươi ngàn người đã an trú vào ngôi Tam Bảo.

- Bạch ngài, ngày mai trẫm sẽ phái xe đến. Xin ngài hãy lên xe ấy và đi đến.

Nói xong, nhà vua đã đảnh lễ rồi ra đi.

Sau khi nhà vua ra đi không bao lâu, vị trưởng lão đã bảo với sa di Sumana rằng:

- Này Sumana, hãy đến. Ngươi hãy thông báo giờ giấc để nghe Pháp.

- Bạch ngài, con sẽ thông báo cho nghe được đến tận nơi nào?

- Toàn thể đảo Laṅkā.

- Bạch ngài, lành thay!

Rồi vị sa di đã nhập vào tứ thiền có cơ sở của thần thông, xong đứng dậy, chú nguyện bằng tâm định, rồi thông báo ba lần về giờ giấc để nghe Pháp cho toàn bộ đảo Laṅkā nghe được.

Khi nghe tiếng nói ấy, nhà vua đã phái người đến gặp các vị trưởng lão (hỏi rằng):

- Bạch các ngài, có tai họa gì xảy ra vậy?

- Không có tai họa gì xảy ra cho chúng tôi cả. Vì chúng tôi muốn giảng giải Phật Pháp nên thông báo thời giờ để nghe Pháp.

Khi nghe được lời thông báo ấy của vị sa di, chư thiên địa cầu đã lập lại lời ấy. Và bằng phương thức trên, lời thông báo đã đi lên đến tận cõi trời Phạm Thiên; nhờ lời thông báo ấy mà chư thiên đã hội tụ lại đông đảo. Khi nhìn thấy đông đảo chư thiên đã tụ hội lại, vị trưởng lão đã thuyết bài kinh Tâm Thăng Bằng (Samacittasuttantaṃ) Khi chấm dứt bài thuyết pháp, vô số chư thiên đã lãnh hội được giáo pháp; nhiều loài rồng và kim-sỉ-điểu đã an trú vào sự nương tựa (Tam Bảo).

Rồi khi trải qua đêm ấy, nhà vua đã cho xe đến rước các vị trưởng lão. Người đánh xe ấy đã dừng xe lại một bên và nói với các vị trưởng lão rằng:

- Bạch các ngài, xe đã được đem lại, xin hãy lên xe rồi chúng ta sẽ đi.

- Chúng tôi không lên xe đâu. Ngươi cứ việc đi, chúng tôi sẽ theo sau.

Nói xong, các vị trưởng lão đã bay lên không trung về phía đông của thành phố Anurādhapura sau đó đáp xuống vùng đất của bảo tháp thứ nhất. Cho nên, (sau này) chính cái bảo tháp được xây dựng tại địa điểm mà các vị trưởng lão đã đáp xuống đầu tiên được gọi là "Bảo Tháp Thứ Nhất."

Người đánh xe ấy đã nhìn thấy các vị trưởng lão đi đến trước liền thắt lại dây buộc lưng và khoác lại áo choàng. Sau khi nhìn thấy vậy, người đánh xe ấy đã sanh tâm tín thành cao độ rồi đi đến tâu với nhà vua rằng:

- Tâu bệ hạ, các vị trưởng lão đã đến.

Nhà vua hỏi:

- Các vị có lên xe không?

- Tâu bệ hạ, không có lên. Hơn nữa, họ khởi hành sau thần nhưng lại đến nơi trước và đang đứng ở cửa phía đông.

Nhà vua cũng đã đi đến đảnh lễ các vị trưởng lão và nhận lãnh bình bát từ tay của trưởng lão Mahinda rồi hướng dẫn các vị trưởng lão vào thành phố với sự tôn vinh và cung kính vô cùng trọng thể, sau đó đã đưa vào hoàng cung.

Vị trưởng lão khi nhìn thấy chỗ ngồi soạn sẵn được làm cố định đã khởi ý rằng: "Lời giáo huấn của bậc Đạo Sư chúng ta sẽ được thiết lập bền vững ở toàn bộ đảo Laṅkā như vật này đã được gắn cố định trên mặt đất vậy," rồi đã ngồi xuống.

Nhà vua đã đích thân làm hài lòng các vị trưởng lão với vật thực thượng hạng loại cứng loại mềm. Sau khi việc thọ thực hoàn tất, vị trưởng lão đã thực hiện cơn mưa Pháp Bảo rơi xuống cho nhà vua và các người tùy tùng khi ngài thuyết giảng về Chuyện Ngạ Quỷ (Peta-vatthu), về Chuyện Thiên Cung (Vimānavatthu), và Tương Ưng Sự Thật (Saccasaṃyutta). Sau khi lắng nghe buổi thuyết giảng Giáo Pháp ấy của vị trưởng lão, năm trăm cung phi đã chứng ngộ quả Nhập Lưu. Khi buổi giảng Pháp chấm dứt vào lúc chiều tối, các quan đại thần đã đưa các vị trưởng lão đến vườn thượng uyển Mahāmegha, và các vị trưởng lão đã ngụ tại vườn thượng uyển Mahāmegha.

Sau khi trải qua đêm ấy, nhà vua đã đi đến nơi các vị trưởng lão hỏi han về sự nghỉ ngơi có được an lạc không rồi đã hỏi như vầy:

- Bạch ngài, tu viện có được phép đối với hội chúng tỳ khưu không?

Vị trưởng lão trả lời:

- Tâu Đại Vương, được phép.

Nhà vua đã hoan hỷ cầm lấy cái bình bằng vàng chế nước trên tay của vị trưởng lão rồi đã cúng dường khu vườn thượng uyển Mahāmegha. Khi các giọt nước rơi xuống, trái đất đã rúng động. Vị trưởng lão đã thuyết giảng Giáo Pháp trong bảy ngày. Có đến chín ngàn năm trăm người đã chứng ngộ Giáo Pháp. Sau đó, vị trưởng lão đã đi đến núi Cetiyagiri và nhà vua cũng đã đi đến nơi đó.

Vào ngày hôm ấy, vị quan triều đình tên là Ariṭṭha và năm mươi lăm anh em đã quỳ lạy nhà vua tâu rằng:

- Tâu bệ hạ, thần muốn được xuất gia nơi các vị trưởng lão.

- Này khanh, tốt lắm! Ngươi hãy xuất gia đi.

Nhà vua đã cho phép và đã thuyết phục vị trưởng lão chấp thuận. Ngay ngày hôm ấy, vị trưởng lão đã làm lễ xuất gia. Và tất cả (các vị xuất gia) đã thành tựu phẩm vị A-la-hán ngay trong lúc cạo đầu.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

16. Ngay trong ngày hôm ấy, nhà vua đã tiến hành công việc xây dựng sáu mươi tám chỗ ngụ ở xung quanh vùng đất của bảo tháp Kaṇṭaka.

17. Rồi nhà vua đã trở lại thành phố, còn các vị trưởng lão đã cư ngụ ở chốn ấy. Đến giờ khất thực, các vị đã đi vào thành phố với lòng bi mẫn.

18. Khi công việc xây dựng các chỗ ngụ đã được hoàn tất, nhà vua đã đi đến làm lễ cúng dường tu viện đến các vị trưởng lão vào ngày trăng tròn của tháng Āsāḷha.

19. Ngay trong ngày hôm ấy, vị trưởng lão là người không còn bị trói buộc đã kết đường ranh giới bao gồm trú xá ấy và ba mươi hai mālaka.

20. Trong khuôn viên Tumbaru đã được kiết giới, vị trưởng lão đã tiến hành việc tu lên bậc trên cho những người đang mong mỏi xuất gia là công việc trước nhất trong các việc.

21. Tất cả sáu mươi hai vị A-la-hán ấy đã an cư mùa mưa ở nơi ấy trên ngọn núi Cetiya và đã đem lại cho nhà vua niềm phấn chấn.

Phần Giảng Giải
về Sự Thọ Lãnh Tu Viện Cetiyapabbata
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Năm

Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Tư

Một thời gian sau, vào ngày an vị xá lợi xương vai bên phải ở tu viện Thūpārāma, tất cả những người đến từ thành phố và thấy được sự kỳ diệu của song thông nên đã xuất gia trở thành ba mươi ngàn vị tỳ khưu. Kế đến vào ngày hạ thổ cây Đại Bồ Đề, hoàng hậu Anulā cùng năm trăm công nương và năm ngàn cung nữ đã xuất gia với trưởng lão ni Saṅghamitta và đã thành tựu phẩm vị A-la-hán không lâu sau đó. Lại thêm người cháu của vua là Ariṭṭha cùng với năm trăm nam nhân đã xuất gia với vị trưởng lão và cũng đã thành tựu phẩm vị A-la-hán không lâu sau đó.

Lúc bấy giờ, nhà vua đã hỏi trưởng lão Mahinda rằng:

- Bạch ngài, như vậy Giáo Pháp đã được thiết lập ở đảo Laṅkā hay chưa?

- Tâu Đại Vương, Giáo Pháp đã được thiết lập nhưng gốc rễ của Giáo Pháp vẫn chưa được cắm sâu.

- Bạch ngài, khi nào gốc rễ mới được gọi là đã cắm sâu xuống?

- Tâu Đại Vương, khi nào có đứa trẻ được sanh ra trên đảo Laṅkā, có cha mẹ là người đảo Laṅkā, xuất gia ở đảo Laṅkā, học thuộc Luật và đọc tụng trên đảo Laṅkā, thì khi ấy gốc rễ của Giáo Pháp mới được gọi là đã cắm sâu xuống.

- Bạch ngài, vị tỳ khưu như vậy đã có chưa?

- Tâu Đại Vương, có vị tỳ khưu xuất chúng tên là Ariṭṭha có đủ năng lực trong nhiệm vụ đó.

- Bạch ngài, trẫm cần phải làm gì trong vấn đề này?

- Tâu Đại Vương, cho xây dựng một hội trường.

- Bạch ngài, lành thay.

Nhà vua (nghĩ rằng): "Vào thời kỳ đại kết tập, đại vương Ajātasattu đã cho xây dựng một hội trường" nên với quyền lực của vị vua đã cho xây dựng hội trường tại vùng đất có gian nhà của quan cận thần Meghavaṇṇābhaya, rồi cho tất cả các nhạc công biểu diễn tài nghệ của mỗi một cá nhân (và tuyên bố rằng): "Chúng ta sẽ chứng kiến gốc rễ của Giáo Pháp được cắm sâu xuống." Sau đó, đức vua cùng với đoàn tùy tùng hàng ngàn người đã đi đến tu viện Thūpārāma.

Vào lúc bấy giờ, một ngàn vị tỳ khưu đã tụ hội tại Thūpārāma. Chỗ ngồi của vị trưởng lão Mahinda vĩ đại được quay mặt về hướng nam. Pháp tòa của vị trưởng lão Ariṭṭha xuất chúng được xếp đặt quay mặt về hướng bắc. Khi ấy, vị trưởng lão xuất chúng Ariṭṭha được trưởng lão Mahinda yêu cầu đã đích thân đến đảnh lễ các vị tỳ khưu trưởng thượng tùy theo thứ bậc rồi đến ngồi trên Pháp tòa. Sáu mươi tám vị đại trưởng lão dẫn đầu là trưởng lão Mahinda đã đến ngồi xuống quanh Pháp tòa. Người em trai của nhà vua là trưởng lão Mantābhaya (nghĩ rằng): "Khi hoàn thành nhiệm vụ, ta sẽ học Luật" cùng với năm trăm vị tỳ khưu cũng đã ngồi xuống quanh Pháp tòa của vị trưởng lão xuất chúng Ariṭṭha. Các vị tỳ khưu còn lại cùng nhà vua và đoàn tùy tùng mỗi một người cũng đã ngồi xuống trên chỗ ngồi được xếp đặt sẵn.

Lúc bấy giờ, đại đức trưởng lão xuất chúng Ariṭṭha đã tụng đọc phần duyên khởi của Luật: "Lúc bấy giờ, đức Phật Thế Tôn ngự tại Verañjā ở gốc cây Pucimanda của dạ-xoa Naḷeru." Trong khi phần duyên khởi của Luật đang được đại đức trưởng lão xuất chúng Ariṭṭha tụng đọc, một tiếng động kinh hồn đã vang lên ở không trung và những tia chớp sái mùa đã bắn ra tung toé, chư thiên đã ca ngợi, quả đại địa cầu có nước bao bọc cũng đã rúng động.

Trong khi vô số hiện tượng kỳ diệu xảy ra như vậy, đại đức trưởng lão Ariṭṭha ngồi giữa hội chúng có trưởng lão Mahinda dẫn đầu cùng với sáu mươi tám vị đại trưởng lão đã đoạn tận lậu hoặc, có hội chúng riêng biệt, thêm vào sáu mươi ngàn vị tỳ khưu khác nữa trong ngày đại lễ Pavāraṇā của tháng Kattika thứ nhất ở giữa tu viện Thūpārāma đã giảng rõ về Tạng Luật, về lý do khiển trách của đức Thế Tôn để làm sáng tỏ lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư, và về sự hướng dẫn để ngăn ngừa nghiệp thân và nghiệp khẩu. Giống như trưởng lão Mahākassapa, trưởng lão Yasa, và trưởng lão Moggaliputtatissa đã kết tập Pháp và Luật được phân tích theo Tạng, theo Bộ Kinh, theo Thể, và theo Pháp Uẩn; tương tợ như thế, trưởng lão Mahinda vĩ đại, trong khi kết tập Pháp và Luật, đã làm cho gốc rễ của Giáo Pháp được cắm sâu vào hòn đảo Laṅkā, và đã thực hiện cuộc kết tập lần thứ tư.

Khi hoàn tất việc kết tập, đại địa cầu đã rúng động với nhiều phương cách khác nhau. Lần kết tập này kết thúc sau một thời gian không thể xác định được.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

1. Sau khi bậc Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn được hai trăm mười tám năm, Piyatissako đã lên ngôi vua.

2. Giống như trưởng lão Mahākassapa, Yasa, và Tissa đã cho thực hiện cuộc kết tập Giáo Pháp, ngài Mahinda cũng thực hiện việc ấy như thế.

3. Nhưng vị đại trưởng lão Mahinda đã phát triển lời giáo huấn tối thượng của đấng Chiến Thắng gồm có pháp Học, pháp Hành, và pháp Thành ở trên đảo Laṅkā một cách tốt đẹp.

4. Vị ấy là bậc đại hiền triết, là ngọn hải đăng của xứ Laṅkā, được ví như là bậc Đạo Sư của xứ Laṅkā, và đã làm nhiều điều lợi ích cho xứ Laṅkā.

5. Tất cả sáu mươi tám vị đại trưởng lão nhận lãnh trọng trách đã tụ hội lại. Các vị ấy có hội chúng riêng biệt và là đệ tử của đấng Pháp Vương.

6. Các vị ấy có lậu hoặc đã đoạn tận, căn quyền thu thúc, có Tam Minh, rành rẽ về thần thông đã chứng tri về lợi ích tối thượng và đã giảng dạy cho đức vua.

7. Sau khi hoàn thành cuộc kết tập lần thứ tư và đem lại nhiều lợi ích cho thế gian, các vị đại ẩn sĩ đã rực sáng như những khối lửa và Niết Bàn.

8. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt trạng thái bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải về Cuộc Kết Tập Lần Thứ Tư
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Sáu

Giảng Giải về việc Tam Tạng được Ghi Chép thành Sách

Sau khi các vị trưởng lão đã Vô Dư Niết Bàn, các vị khác là đệ tử của các vị trưởng lão ấy như là Tissa, Danta, Kālasumana, Dīghasumana, v.v... và các đệ tử của vị đại trưởng lão Ariṭṭha, rồi đến các đệ tử của các vị đệ tử ấy; như vậy theo phương thức truyền khẩu các bậc thầy tổ trước đây đã truyền lại Tạng Luật này cho đến thời kỳ lúc bấy giờ. Sự việc ấy được trình bày như sau: "Từ sau cuộc kết tập lần thứ ba, (Tạng Luật) đã được ngài Mahinda và các vị khác đem đến hòn đảo Laṅkā này rồi đã được trưởng lão Ariṭṭha và các vị khác sau khi học tập từ ngài Mahinda đã lưu truyền một thời gian. Từ khi ấy cho đến thời kỳ lúc bấy giờ, (Tạng Luật) đã được truyền lại từ sự kế thừa của các vị thầy sau đến sự kế thừa của các đệ tử của chính các vị ấy."

(Tạng Luật) được tồn tại ở đâu? Nên hiểu như vầy: "Giống như dầu ăn được trữ trong thố ngọc sẽ không bị rỉ ra cho dù chỉ một chút ít; cũng tương tợ như thế, (Tạng Luật) được lưu truyền một cách trọn vẹn từ văn tự đến ý nghĩa và được tồn tại ở các vị có sự vững vàng trong thân hành niệm, có sự khiêm nhường, có sự hối lỗi, có lòng cầu học." Vì thế, sau khi đã hiểu rõ điều lợi ích của việc học tập Luật nhằm mục đích duy trì Luật, vị tỳ khưu có tâm cầu học cần phải nghiên cứu về Luật.

Sau đây là lợi ích của việc học tập về Luật. Bởi vì trong Giáo Pháp, người thành thạo việc học tập Luật xứng đáng là cha mẹ của những người con thuộc các gia đình danh giá có đầy đủ đức tin vì những người con ấy cần đến vấn đề xuất gia, sự tu lên bậc trên, việc thực hành các phận sự chính và phụ, và sự tốt đẹp về tánh hạnh. Hơn nữa, do việc học tập về Luật, bản thân của vị ấy có giới uẩn được đầy đủ, khéo được thu thúc, khéo được hộ trì, là nơi nương tựa của các vị tỳ khưu thực tâm hối lỗi; vị ấy phát biểu giữa hội chúng với sự tự tin; vị ấy chận đứng sự công kích của kẻ nghịch đúng theo pháp; đồng thời những thiện pháp nào đã được đức Thế Tôn thuyết giảng có nhân là sự thu thúc, vị thông hiểu Luật là người thừa tự những thiện pháp ấy và là người hành động dựa vào nền tảng của Luật đối với những thiện pháp ấy.

Vấn đề này cũng đã được đức Thế Tôn thuyết giảng rằng:

"Luật đưa đến sự thu thúc, sự thu thúc đưa đến sự không hối hận, sự không hối hận đưa đến sự hân hoan, sự hân hoan đưa đến hỷ, hỷ đưa đến an tịnh, an tịnh đưa đến lạc, lạc đưa đến định, định đưa đến trí tuệ và sự thấy biết đúng theo bản thể, trí tuệ và sự thấy biết đúng theo bản thể đưa đến sự nhờm gớm, sự nhờm gớm đưa đến sự ly dục, sự ly dục đưa đến sự giải thoát, sự giải thoát đưa đến trí tuệ và sự thấy biết về giải thoát, trí tuệ và sự thấy biết về giải thoát đưa đến sự không còn chấp thủ Vô Dư Niết Bàn."

Do đó, sự gắn bó với việc học tập Luật cần được thực hành. Về điều này, có lời nói rằng:

1. Vua Devānampiyatissa chúa tể của xứ Laṅkā là người có đức độ và trí tuệ; ngài đã trị vì vương quốc được bốn mươi năm.

2. Khi đức vua băng hà, người em trai nổi tiếng tên Uttiya là dòng dõi sát-đế-lỵ đã trị vì vương quốc ở trong thành Anurādhapura lộng lẫy.

3. Mahānāga là vị phó vương, Yaṭāla có sức mạnh phi thường, Goṭhābhaya vô cùng đức độ, và Kalavaṇṇa có sự năng động.

4. Bốn người con và cháu trai ấy của đức vua đã kế tục trị vì đất nước theo đúng nguyên tắc ở trong vùng Mahāgāma xinh đẹp.

Sau khi bậc Chánh Đẳng Giác Vô Dư Niết Bàn được ba trăm bảy mươi sáu năm, đại vương Duṭṭha-gāmaṇi-abhaya đã thống nhất được lãnh thổ ở trên đảo Laṅkā. Nhà vua đã cho xây dựng tu viện Maricavaṭṭi và lâu đài Loha có chín tầng, đã cho cẩn ngọc ở Đại Tháp (Mahāthūpa), đã thỉnh mời chín mươi sáu koṭi [*] vị tỳ khưu A-la-hán và đã thực hiện lễ đại thí. Nhà vua đã trị vì vương quốc ở Anurādhapura một cách chính trực và công bình trong hai mươi bốn năm đến khi hết tuổi thọ đã sanh về cõi trời Tusitā như là thức dậy sau giấc ngủ.

[* 1 koi tương đương 10 triệu (10.000.000) -- ND]

Vào lúc bấy giờ, hội chúng tỳ khưu cư ngụ tại hòn đảo Laṅkā đã học hiểu Tam Tạng Phật Pháp gồm tất cả các lời Chú Giải và Chánh Tạng được tuần tự truyền lại theo phương thức truyền khẩu nhằm mục đích phát triển Giáo Pháp.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

5. Sau khi đấng Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn được ba trăm bảy mươi sáu năm, Duṭṭhagāmaṇi đã lên ngôi vua.

6. Duṭṭhagāmaṇi-abhaya chúa tể của xứ Laṅkā là người có đức độ và trí tuệ; nhà vua đã trị vì vương quốc Laṅkā được hai mươi bốn năm.

7. Vị chúa tể của trái đất sau khi đã thực hiện nhiều phước thiện như thế, đến khi thân xác tiêu hoại nhờ có trí tuệ nên đã tái sanh về cõi Tusitā.

*

Phần nói về sự tái sanh của Đại Vương Vaṭṭagāmaṇi-abhaya

Năm mươi bảy năm đã trôi qua sau ngày xây dựng Đại Tháp (Mahāthūpa), đại vương Vaṭṭagāmaṇi-abhaya đã trị vì vương quốc ở hòn đảo Laṅkā. Vị vua ấy đã cho xây dựng đại tu viện Abhayagiri. Trong tu viện ấy, nhà vua đã cho kiến tạo ngôi bảo tháp vĩ đại tương đương với Mahāthūpa, có an trí xá lợi, rồi đã dâng cúng đến hội chúng tỳ khưu có trưởng lão Mahātissa dẫn đầu.

Vào lúc bấy giờ, hội chúng tỳ khưu trú ngụ trên đảo Laṅkā biết được tình trạng suy thoái của Giáo Pháp và của chúng sanh nên tất cả các vị tỳ khưu thông hiểu Pháp, thông hiểu Luật, đa văn, có tuệ phân tích đã tụ hội lại ở Mahāvihāra. Khi ấy, đại vương Vaṭṭagāmaṇi-abhaya đã đi đến Mahāvihāra gặp hội chúng tỳ khưu, sau khi đến đã đảnh lễ hội chúng tỳ khưu rồi ngồi xuống ở một bên. Khi ấy, hội chúng tỳ khưu đã nói với đức vua rằng:

- Tâu Đại Vương, Tam Tạng Phật Pháp gồm tất cả các lời Chú Giải và Chánh Tạng được kế tục truyền lại theo phương thức truyền khẩu và được tồn tại đến ngày nay nhờ vào phương thức truyền khẩu. Trong ngày vị lai, Giáo Pháp và chúng sanh sẽ bị suy thoái, toàn bộ Tam Tạng Phật Pháp gồm Chú Giải và Chánh Tạng sẽ bị mai một. Vì thế, giờ đây Tam Tạng Phật Pháp gồm toàn bộ Chú Giải và Chánh Tạng từ phương thức truyền khẩu nên được cho viết lại thành sách.

- Bạch các ngài, trẫm cần phải làm gì trong trường hợp này?

- Tâu Đại Vương, ngài khởi sự cho xây dựng hội trường và thu thập toàn bộ lá cho các tập sách.

- Bạch các ngài, lành thay.

Sau đó, với quyền hành của vua chúa, vị đại vương đã cho xây dựng hội trường ở Mahāvihāra (Đại Tự) giống như hội trường đã được thực hiện bởi đại vương Ajātasattu trong thời gian của cuộc đại kết tập lần thứ nhất, rồi đã cho thu thập toàn bộ lá cho các tập sách, và xếp đặt ở giữa hội trường các chỗ ngồi trân trọng, xong cho người thông báo với hội chúng tỳ khưu rằng:

- Bạch các ngài, đức vua đã hoàn thành nhiệm vụ.

Sau đó, trong số hàng trăm ngàn vị tỳ khưu, hội chúng tỳ khưu đã chọn lựa ra được một ngàn vị tỳ khưu trưởng lão thông hiểu pháp học và Tam Tạng, có tuệ phân tích, có tam minh, v.v... Khi ấy, các vị tỳ khưu trưởng lão đã lần lượt đến ngồi xuống trên chỗ ngồi thích hợp. Giống như trưởng lão Mahākassapa, trưởng lão Yasa, trưởng lão Tissa, và trưởng lão Mahinda trong khi kết tập Pháp và Luật đã kết tập Pháp và Luật được phân tích theo Tạng, theo Bộ Kinh, theo Thể, và theo Pháp Uẩn; tương tợ như thế, trong khi cho ghi chép lại Pháp và Luật từ phương thức truyền khẩu xuống các tập sách, hội chúng tỳ khưu đã cho người viết Tam Tạng Phật Pháp luôn cả Chú Giải gọi là Pháp và Luật được phân tích theo Tạng, theo Bộ Kinh, theo Thể, và theo Pháp Uẩn xuống các tập sách. Các vị đã duy trì sự tồn tại của Giáo Pháp lâu dài đến năm ngàn năm và được xem như đã thực hiện cuộc kết tập lần thứ năm vậy.

Khi hoàn tất việc ghi chép lại Giáo Pháp, đại địa cầu đã rung động bằng nhiều cách. Việc ghi chép lại Tam Tạng này đã được hoàn tất sau một năm.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

8. Sau khi đấng Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn được bốn trăm ba mươi ba năm, Vaṭṭagāmaṇi lên ngôi vua.

9. Hội chúng tỳ khưu ngụ tại đảo Laṅkā quán xét về ngày vị lai thấy được sự thoái hóa của chúng sanh, lúc ấy các vị tỳ khưu đã tụ hội lại.

10. Tất cả đều thông hiểu Tam Tạng, có tuệ phân tích, đã đoạn tận các lậu hoặc, đạt được sự tự tại, và rất tinh tường về Luật.

11. Các vị trưởng lão tỳ khưu đã tụ hội lại tại ngôi Mahāvihāra (Đại Tự) ấy và đã tuần tự ngồi xuống trên chỗ ngồi được quy định cho bản thân.

12. Trước đây, các vị tỳ khưu có đại trí tuệ đã kế thừa Tam Tạng Pāli và Chú Giải của Tam Tạng bằng phương thức truyền khẩu.

13. Bằng cách tụng đọc lại trong cuộc kết tập, các vị trưởng lão ấy đã cùng nhau kết tập toàn bộ Tam Tạng và Chú Giải của Tam Tạng.

14. Năm ngàn năm ý nghĩa của sự tồn tại lâu dài và là mục tiêu đã được thực hiện cho sự vận hành và sự thịnh vượng của Giáo Pháp.

15. Chính nhờ phương thức tụng đọc, các vị trưởng lão thông hiểu về Luật đã cho viết toàn bộ Tạng Luật xuống thành sách.

16. Chính nhờ phương thức tụng đọc, các vị trưởng lão thông hiểu về Kinh đã cho viết toàn bộ Tạng Kinh xuống thành sách.

17. Chính nhờ phương thức tụng đọc, các vị trưởng lão thông hiểu về Vi Diệu Pháp đã cho viết toàn bộ Tạng Vi Diệu Pháp xuống thành sách.

18. Toàn bộ lời dạy của các vị trưởng lão và toàn bộ Chú Giải được kế thừa bằng phương thức truyền khẩu đã được cho viết xuống thành sách.

19. Khi hoàn tất công việc ghi chép, đại địa cầu này đã rúng động và vô số điều kỳ diệu đã xảy ra ở thế gian bằng nhiều cách khác nhau.

20. Sau khi đã ghi chép lại Tam Tạng và đã làm nhiều lợi ích cho thế gian, tất cả các vị trưởng lão ấy đã sống đến hết tuổi thọ rồi Niết Bàn.

21. Như thế, vua Vaṭṭagāmaṇi-abhaya đã trị vì vương quốc Laṅkā được mười hai năm, tính luôn từ đầu là năm tháng.

22. Như vậy, vị chúa tể của trái đất có trí tuệ đã làm vô số phước thiện, đến khi thân thể rã tan đã tái sanh về thiên giới.

23. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt trạng thái bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải
Về Việc Tam Tạng được Ghi Chép Thành Sách
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Bảy

Giảng Giải về việc Phiên Dịch Chú Giải Tam Tạng

Đã năm trăm mười sáu năm trôi qua kể từ khi Tam Tạng được ghi chép lại, đức vua tên Mahānāma đã trị vì vương quốc ở trên hòn đảo Laṅkā. Vào thời gian đó, nghe rằng có một thanh niên bà-la-môn xuất thân dòng dõi bà-la-môn ở lân cận Bảo Tọa Bồ Đề thuộc vùng trung tâm của Jambudīpa (Ấn Độ). Được thông thạo tất cả các môn học và giỏi về ba tập Vệ-đà, anh ta thường đi khắp các xóm làng, thành phố, xứ sở, và kinh thành trong xứ Jambudīpa; hễ nơi nào có các bậc trí thức, sa-môn, bà-la-môn cư ngụ thì anh ta tìm đến nơi ấy để thảo luận. Khi anh ta hỏi câu hỏi thì những người khác không thể trả lời được, nhưng khi người khác hỏi lại câu hỏi thì anh ta trả lời. Cứ thế, anh ta đã đi khắp xứ Jambudīpa và đã đến được một tu viện nọ. Trong tu viện ấy có hàng trăm vị tỳ khưu đang cư ngụ. Trưởng lão của hội chúng các tỳ khưu ấy là ngài đại trưởng lão tên Revata đã đoạn tận các lậu hoặc, thành tựu tuệ phân tích, và có khả năng bẻ gãy lý lẽ của kẻ khác.

Lúc bấy giờ, thanh niên bà-la-môn ấy sáng tối luôn tụng đọc các bài chú thuật từ đầu đến cuối có sự hoàn hảo trong từng câu. Khi nghe được tiếng cầu kinh của thanh niên bà-la-môn ấy, vị trưởng lão đã suy nghĩ như vầy: "Người bà-la-môn này có trí tuệ quảng bác, cần phải thu phục người này" nên đã cho mời đến và nói như sau:

- Này Bà-la-môn, người nào đang làm ồn với tiếng lừa hí vậy?

Thanh niên bà-la-môn trả lời rằng:

- Ồ vị xuất gia, ngài có biết ý nghĩa của những tiếng lừa hí đó không?

- Đương nhiên ta biết. Vị trưởng lão đáp lại.

Khi ấy, thanh niên bà-la-môn đã hỏi vị trưởng lão những vấn đề khó khăn thuộc về ba tập Vệ Đà và tập thứ năm là Itihāsa mà anh ta không biết câu trả lời, thậm chí thầy của anh ta cũng không biết. Vị trưởng lão trước đây đã thông thạo ba tập Vệ Đà nay lại chứng đạt được tuệ phân tích cho nên vị này không gặp khó khăn trong việc trả lời những câu hỏi ấy.

Khi đã trả lời các câu hỏi ấy xong, vị trưởng lão mới nói với thanh niên bà-la-môn rằng:

- Này Bà-la-môn, ngươi hỏi ta đã nhiều rồi, giờ ta hỏi ngươi một câu hỏi. Có phải ngươi sẽ trả lời câu hỏi của ta không?

- Ồ vị xuất gia, xin vâng. Ngài hỏi đi, tôi sẽ trả lời.

Vị trưởng lão đã hỏi câu hỏi này về phần Tâm trong Tạng Song Đối (Yamaka):

- Phải chăng tâm của người nào sanh lên mà không diệt thì tâm của người ấy sẽ diệt rồi sẽ không sanh? Hoặc là phải chăng tâm của người nào sẽ diệt rồi sẽ không sanh thì tâm của người ấy sanh lên mà không diệt?

Thanh niên bà-la-môn không thể hiểu được phần đầu hoặc phần sau nên đã nói rằng:

- Này vị xuất gia, điều ấy gọi là gì vậy?

- Này Bà-la-môn, điều này gọi là chú thuật của đức Phật.

- Ngài có thể dạy cho tôi điều ấy không?

- Này Bà-la-môn, chúng tôi chỉ có thể dạy cho người đã xuất gia thôi.

Sau đó, thanh niên bà-la-môn đã xin xuất gia vì muốn học chú thuật. Vị trưởng lão đã cho thanh niên bà-la-môn xuất gia và tu lên bậc trên. Rồi vị trưởng lão cũng đã chỉ dạy lời giáo huấn của đức Phật tức là toàn bộ Tam Tạng.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

1. Chàng thanh niên bà-la-môn sanh ở vùng lân cận Bảo Tọa Bồ Đề là người hiểu biết rành rẽ về các môn học lẫn ngành nghề và thông hiểu ba tập Vệ Đà.

2. Là người có kiến thức vững chắc, thiện xảo về các lối tranh luận, và là người thích tranh luận nên thường đi khắp xứ Jambudīpa đến nơi nào có cuộc tranh luận.

3. Chàng trai đã đi đến một tu viện nọ và có thói quen sáng tối chắp tay lên đọc toàn bộ bài kinh văn một cách hoàn hảo.

4. Ở đó, có một vị đại trưởng lão tên Revata đã chú ý đến chàng ta (nghĩ rằng): "Nhân vật này có kiến thức quảng bác, cần phải thu phục."

5. Vị ấy đã hỏi rằng: "Người nào đang làm ồn với tiếng lừa hí vậy?" và đã được nói lại rằng: "Ngài có hiểu ý nghĩa tiếng hí của những con lừa không vậy?"

6. Vị ấy đã đáp rằng: "Đương nhiên, ta hiểu" và đã bộc lộ vốn hiểu biết của mình. Mỗi khi được hỏi, vị ấy không những đã trả lời mà còn chỉ cho thấy các điểm nghịch lý nữa.

7. Và đã yêu cầu rằng: "Vậy thì ngươi hãy bày tỏ vốn hiểu biết của mình," rồi đã hỏi về Chánh Tạng của Vi Diệu Pháp. Chàng trai đã không biết được ý nghĩa.

8. Chàng trai đã hỏi rằng: "Đó là chú thuật của ai vậy?" Vị trưởng lão đã trả lời: "Chú thuật của đức Phật." Khi được yêu cầu rằng: "Hãy dạy tôi điều ấy," vị ấy đáp: "Để được điều ấy, ngươi hãy xuất gia đi."

9. Bị thúc đẩy bởi các lý do nêu trên, chàng trai đã xuất gia vì mục đích chú thuật. Vị trưởng lão sau khi chỉ dạy về các đề mục thiền đã làm lễ xuất gia đúng theo nguyên tắc.

10. Sau khi đã tu lên bậc trên, chàng trai đã học Tam Tạng và trở nên vô cùng nổi tiếng ví như mặt trăng và mặt trời vậy.

11. Do bản thân có khả năng hùng biện (ghosa) sâu sắc như đức Phật (Buddha) nên được gọi là "Buddha-ghosa" và nổi tiếng khắp địa cầu như đức Phật vậy.

Từ đó về sau, vị tỳ khưu ấy được nổi tiếng ở thế gian với danh hiệu là "Trưởng lão Buddhaghosa." Lúc bấy giờ, ở tại tu viện đó sau khi thực hiện tác phẩm tên Ñāṇodaya và phần Chú Giải của bộ Pháp Tụ tên là Atthasālinī, vị ấy đã khởi công thực hiện bộ Chú Giải chi tiết. Khi ấy, ngài trưởng lão Revata nhận thấy điều ấy nên đã nói như vầy:

- Này Buddhaghosa, ở Jambudīpa này chỉ có vỏn vẹn Chánh Tạng tức là Tam Tạng, còn phần Chú Giải của Tam Tạng và lời giải thích của các vị thầy giáo thọ thì không được biết đến. Về phần Chú Giải tiếng Sīhala (ngôn ngữ cổ xứ Tích Lan) có nguồn gốc từ ba cuộc kết tập đã được ngài Mahinda cho thực hiện bằng tiếng Sīhala và phổ biến ở đảo Tích Lan sau khi đã xem xét lại phương thức giảng giải được thực hiện bởi ngài Sāriputta và các vị khác nữa. Vậy ngươi hãy đi đến nơi ấy nghiên cứu toàn bộ rồi chuyển sang ngôn ngữ của xứ Magadha, bộ Chú Giải ấy sẽ đem lại lợi ích cho tất cả thế gian.

Được nói như vậy, ngài Buddhaghosa đã khởi tâm hoan hỉ rồi đã đảnh lễ từ giã thầy tế độ và hội chúng tỳ khưu, sau đó theo lộ trình đã đến được bến cảng Nāga. Lúc bấy giờ, thiên vương Sakka đã dâng đến ngài trái cây tên harītakī và cây viết rồi đã trở về lại chỗ ngụ của mình.

Từ nơi ấy, ngài đã lên thuyền sau đó ở giữa biển khơi đã gặp và trao đổi chuyện trò với ngài trưởng lão Buddhadatta có hướng đi ngược lại. Kế đó, ngài đã đi về hướng khác và đã đến được hải cảng của xứ Laṅkā. Ngài đã gặp được hội chúng tỳ khưu thuộc Mahāvihāra (Đại Tự) ở trong thành Anurādhapura lúc ấy đang vào thời kỳ trị vì của đức vua Mahānāma. Ngài đã đến gặp trưởng lão Saṅghapāla ở giảng đường Mahāpadhāna, sau khi lắng nghe Chú Giải bằng tiếng Sīhala và toàn bộ lời dạy của các vị trưởng lão đã xác định rằng: "Đây đúng là tư tưởng của đức Phật, đấng Pháp Chủ," rồi đã thỉnh hội chúng trong tu viện ấy tụ hội lại thưa rằng:

- Bạch các ngài, xin hội chúng hãy cho phép tôi được sử dụng các cuốn sách để thực hiện bộ Chú Giải Tam Tạng.

Khi ấy, hội chúng tỳ khưu đã trao cho hai câu kệ ngôn để xem xét khả năng thực sự của ngài:

- Khi biết được khả năng thực sự của người rồi chúng tôi sẽ trao cho tất cả các cuốn sách.

Sau đó, trưởng lão Buddhaghosa đã xem qua Tam Tạng Pāli và Chú Giải của Tam Tạng rồi tổng hợp lại thành tác phẩm tên là Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo). Khi ấy, chư thiên muốn làm cho trí tuệ của ngài được nhiều người biết đến nên đã làm cuốn sách biến mất. Ngài liền thực hiện cuốn khác. Chư thiên cũng đã làm cho cuốn ấy biến mất. Cũng chính ngài đã thực hiện đến lần thứ ba. Vào thời điểm ấy, chư thiên đã cho lại ngài hai cuốn sách trước. Như vậy là có ba cuốn sách.

Sau đó, trưởng lão Buddhaghosa đã đem ba cuốn sách trình lên hội chúng tỳ khưu. Khi ấy, hội chúng tỳ khưu đã cho đọc ba cuốn sách cùng một lúc. Trong ba cuốn sách ấy, không có gì gọi là sai khác từ đoạn văn, từ âm, từ câu, từ vần, hay từ ý nghĩa, hay thứ tự trước sau, hay về lời dạy của các vị trưởng lão, hay về Chánh Tạng.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

12. Tại đó (Jambudīpa), sau khi hoàn tất tác phẩm Ñāṇodaya vị ấy đã thực hiện Atthasālinī là bản giải thích của Bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅgaṇī).

13. Bậc trí tuệ đã khởi công thực hiện bộ Chú Giải chi tiết. Nhìn thấy điều ấy, ngài trưởng lão Revata đã nói lời này:

14. "Ở đây, chỉ có Chánh Tạng được truyền lại còn Chú Giải không có. Cũng thế, lời dạy của các vị thầy và các tài liệu phân tích không tìm thấy.

15. Còn phần Chú Giải tiếng Sīhala thì hoàn toàn chính thống nhờ vào bậc trí tuệ Mahinda. Đó là lời giảng dạy của đấng Chánh Đẳng Giác được truyền lại qua ba lần kết tập.

16. Sau khi xem xét lại phương thức giảng giải được thực hiện bởi các vị như Sāriputta, v.v..., bản Chú Giải đã được thực hiện bằng ngôn ngữ Sīhala và được phổ biến ở đảo Tích Lan.

17. Vậy ngươi hãy đi đến nơi ấy nghiên cứu rồi chuyển sang ngôn ngữ của xứ Magadha, bộ Chú Giải ấy sẽ đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh."

18. Được nói như thế, vị đại trí tuệ ấy đã hoan hỷ rời xứ sở ra đi đến hòn đảo (Laṅkā) này lúc bấy giờ đang ở vào thời kỳ trị vì của đức vua (Mahānāma) ấy.

19. Khi đến tu viện Mahāvihāra ấy được hoàn hảo về mọi mặt, vị ấy đã đi đến giảng đường Mahāpadhāna có sự hiện diện của ngài Saṅghapāla.

20. Sau khi được nghe Chú Giải bằng tiếng Sīhala và toàn bộ lời dạy của các vị trưởng lão, ngài đã xác định rằng: "Đây đúng là tư tưởng của đấng Pháp Chủ."

21. Rồi đã thỉnh hội chúng tụ hội lại nơi ấy lại thưa rằng: "Xin hãy trao cho tôi tất cả các cuốn sách để thực hiện bộ Chú Giải." Và đã được kiểm tra khả năng.

22. Hội chúng đã cho ngài hai câu kệ ngôn: "Ngươi hãy chứng tỏ khả năng của mình trong việc này; khi nhận biết điều ấy, chúng tôi sẽ trao cho tất cả các cuốn sách."

23. Chính ở nơi đó, từ Tam Tạng Pāli cùng với Chú Giải, ngài đã tổng hợp và đúc kết lại thành tác phẩm Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo).

24. Sau đó, khi đã tụ họp hội chúng đến bên cây Bồ Đề vĩ đại, vị ấy là người thông hiểu lời dạy của đấng Toàn Giác đã bắt đầu giới thiệu về tác phẩm ấy.

25. Chư thiên muốn làm cho nhiều người chú ý đến trí tuệ của ngài nên đã che giấu cuốn sách. Ngài đã thực hiện lại cuốn sách ấy lần thứ nhì rồi lần thứ ba.

26. Khi cuốn sách đã được hoàn chỉnh để đọc vào lần thứ ba, chư thiên cũng đã làm hiện ra ở nơi ấy hai cuốn sách trước.

27. Rồi các vị tỳ khưu đã đọc ba cuốn sách ấy cùng một lúc. Từ đoạn văn, hay từ ý nghĩa, hay thứ tự trước sau,

28. về lời dạy của các vị trưởng lão, về Chánh Tạng, về các câu, và về các vần trong cả ba cuốn sách ấy cũng không có chút gì khác biệt.

Khi ngài Buddhaghosa hoàn tất ba cuốn sách ấy, không trung đã phát ra tiếng vang lớn, những tia chớp không đúng mùa tiết đã lóe lên, và chư thiên đã tán thán ca ngợi. Vào lúc bấy giờ, ở trong Mahāvihāra (Đại Tự) hàng ngàn vị tỳ khưu tụ hội lại chứng kiến hiện tượng kỳ diệu ấy được hài lòng hoan hỷ nên đã tán thán ca ngợi và bàn tán xôn xao rằng: "Đây chính là Bồ Tát Metteyya hiện thân."

Khi nghe được lời đồn ấy, đức vua Mahānāma đã cùng với hội chúng đông đảo của hoàng gia rời khỏi thành phố đi đến Mahāvihāra. Sau khi đảnh lễ hội chúng tỳ khưu, nhà vua đã đảnh lễ ngài trưởng lão Buddhaghosa và mời thỉnh rằng:

- Bạch ngài, khi nào ngài chấm dứt bài pháp xin hãy đến nhận lãnh đồ khất thực tại hoàng cung của trẫm.

Vị ấy đã nhận lời bằng trạng thái im lặng.

Sau đó, hội chúng tỳ khưu đã trao các sách Tam Tạng Pāli cùng với các sách Chú Giải tiếng Sīhala. Khi ấy, ngài Buddhaghosa đã nhận lãnh tất cả các sách ấy. Sau khi dịch toàn bộ Chú Giải tiếng Sīhala, ngài đã thực hiện Chú Giải của Tam Tạng bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản trong khi cư trú tại tòa nhà tên Padhānaghara ở khu vực phía nam của Mahāvihāra (Đại Tự).

Trong Samantapāsādikā, ba Chú Giải tiếng Sīhala đã được đề cập đến. Ba Chú Giải nào? Mahā-aṭṭhakathā, Mahāpaccari-aṭṭhakathā, và Mahā-kurundī-aṭṭhakathā. Ba Chú Giải này gọi là Chú Giải tiếng Sīhala. Mahā-aṭṭhakathā được có tên như vậy vì được thực hiện bởi các vị trưởng lão có ngài Mahākassapa dẫn đầu, được truyền lại từ cuộc kết tập lần thứ nhất rồi đã được ngài Mahinda vĩ đại đem đến (hòn đảo Laṅkā) và thực hiện bằng ngôn ngữ Sīhala. Trong ngôn ngữ Sīhala, paccarī nghĩa là chiếc bè gỗ; nghe rằng trong khi ngồi trên chiếc bè gỗ ấy mà bộ Chú Giải đã được thực hiện nên được gọi tên là Paccarī. Kurundī-aṭṭhakathā có tên như vậy là vì có tu viện tên là Kurundaveḷu và bộ Chú Giải đã được thực hiện trong khi ngồi ở nơi ấy nên có tên là Kurundī.

Sau đó, khi đã dịch bộ Chú Giải Kurundī-aṭṭhakathā tiếng Sīhala ngài Buddhaghosa ấy đã thực hiện bộ Chú Giải của Tạng Luật có tên là Samantapāsādikā bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản. Bởi vì việc ấy có được đề cập:

29. Bộ Chú Giải về Luật ấy đã được biên soạn bằng tiếng nói của xứ Magadha nhằm đem lại sự thông hiểu về Luật và sự hưng thịnh của Giáo Pháp.

30. Bộ ấy tên là Samantapāsādikā và được hoàn tất với số lượng âm từ là hai mươi bảy ngàn cả thảy.

Kế đó về phần Tạng Kinh, sau khi dịch bộ Mahā-aṭṭhakathā tiếng Sīhala, ngài đã thực hiện Chú Giải của Kinh Trường Bộ tên là Sumaṅgalavilāsinī. Cũng như thế, ngài đã thực hiện Chú Giải của Kinh Trung Bộ tên là Papañcasūdanī; rồi thực hiện Chú Giải của Kinh Tương Ưng Bộ Sāratthapakāsinī; và thực hiện Chú Giải của Kinh Tăng Chi BộManoratthapūraṇī. Bởi vì việc ấy có được đề cập:

31. Bộ Chú Giải về Kinh ấy được thực hiện bằng tiếng nói của xứ Magadha nhằm đem lại sự thông hiểu về Kinh và sự hưng thịnh của Giáo Pháp.

32. Bốn bộ Chú Giải ấy được hoàn tất với số lượng âm từ là tám mươi ngàn cả thảy.

33. Còn bộ Chú Giải về Kinh Tiểu Bộ được hoàn tất với số lượng âm từ đếm được là ba mươi bảy ngàn cả thảy.

Kế đó về phần Tạng Vi Diệu Pháp, sau khi dịch bộ Mahā-paccari-aṭṭhakathā tiếng Sīhala ngài Buddhaghosa đã thực hiện Chú Giải của Dhammasaṅganī tên là Atthasālinī bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản. Cũng như thế, ngài đã thực hiện Chú Giải của tác phẩm Vibhaṅga tên là Sammohavinodanī. Bởi vì việc ấy có được đề cập:

34. Bộ Chú Giải về Tạng Vi Diệu Pháp ấy được thực hiện bằng tiếng nói của xứ Magadha nhằm đem lại sự thông hiểu về Vi Diệu Pháp và sự hưng thịnh của Giáo Pháp.

35. Các bộ Chú Giải có tên là Atthasālinī, v.v... đã được hoàn tất với số lượng âm từ đếm được là ba mươi ngàn cả thảy.

Trước đây, các vị giáo thọ trưởng lão đã gìn giữ và thực hành theo truyền thống Chánh Tạng được mang tên là Theravāda, giờ ngài Buddhaghosa đã thực hiện phần Chú Giải của tất cả các lời dạy đó bằng tiếng nói của xứ Magadha. Bộ Chú Giải Tam Tạng ấy đã đem lại lợi ích đến cho các cư dân sống ở tất cả các quốc độ.

Khi bộ Chú Giải Tam Tạng được hoàn tất, đại địa cầu đã rúng động bằng nhiều cách. Bộ Chú Giải Tam Tạng này được thực hiện và hoàn tất chỉ trong một năm.

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ cần phải làm đó, ngài Buddhaghosa có ý muốn đảnh lễ cội Đại Bồ Đề nên đã đảnh lễ từ giã hội chúng tỳ khưu rồi đã trở về lại Jambudīpa (Ấn Độ).

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

36. Sau khi đấng Toàn Giác vô dư Niết Bàn được chín trăm năm mươi sáu năm, đức vua Mahānāma đã trị vì vương quốc Laṅkā theo đúng thập vương pháp.

37. Tiếng đồn về "Buddhaghosa" như là một vị Phật đã vang khắp trái đất. Bởi vì sau khi đi đến hòn đảo Laṅkā, ngài là nguồn đem lại lợi ích cho hòn đảo Laṅkā.

38. Hội chúng đã trao hai câu kệ ngôn và Chú Giải tiếng Sīhala; thuận theo ý của hội chúng, ngài đã thực hiện tác phẩm tên là Visuddhimagga.

39. Khi ấy, hội chúng vô cùng hoan hỷ, hài lòng, đã lập đi lập lại rằng: "Chắc chắn đây là Metteyya rồi!"

40. Khi nhận được những cuốn sách Tam Tạng luôn cả Chú Giải, ngài đã trú ở Ganthākara là một chỗ xa xôi trong tu viện.

41. Rồi vị ấy đã dịch toàn bộ Chú Giải tiếng Sīhala sang tiếng nói của xứ Magadha là ngôn ngữ căn bản của tất cả (các ngôn ngữ).

42. Việc ấy đã đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh thuộc tất cả các ngôn ngữ. Tất cả các giáo thọ sư trưởng lão đã đánh giá Chú Giải ấy tương đương với Chánh Tạng.

43. Đến khi phận sự cần phải làm đã được hoàn tất, ngài đã trở lại xứ Jambudīpa (Ấn Độ) để đảnh lễ cội Đại Bồ Đề.

44. Đức vua Mahānāma đã ra đi theo nghiệp quả sau khi làm vua ở đại địa cầu này được hai mươi hai năm và đã làm vô số phước thiện.

45. Còn vị trưởng lão ấy, sau khi hoàn thành Chú Giải Tam Tạng và đem lại nhiều lợi ích cho thế gian, đến khi hết tuổi thọ cũng đã sanh về cõi Tusitā.

46. Phần các vị tỳ khưu cư ngụ ở Laṅkā, có phận sự đã hoàn thành và không còn lậu hoặc, đến khi hết tuổi thọ tất cả các vị trưởng lão ấy đã Niết Bàn.

47. Khi biết được bản chất của vô thường là khổ đau và thân này khó đạt, bậc trí tuệ hãy cấp thời nỗ lực để chứng đạt trạng thái bất tử vĩnh viễn.

Phần Giảng Giải Về
Việc Phiên Dịch Chú Giải Tam Tạng
trong cuốn "Diệu Pháp Yếu Lược" được thực hiện
nhằm đáp ứng niềm tin của các thiện trí thức
được chấm dứt.

-ooOoo-

Chương Thứ Tám

Phần Giảng Giải về Sớ Giải của Tam Tạng

Đã trải qua hơn sáu trăm tám mươi ba năm kể từ lúc phiên dịch Chú Giải Tam Tạng; vào lúc bấy giờ, vị đại vương tên là Parakkamabāhu thuộc dòng dõi Suriya đã kế vị theo thứ tự kể từ vua Mahāsammata. Sau khi vua cha của ngài băng hà, ngài đã đánh bại các vị vua đối nghịch trong ba vương quốc nên đã được tấn phong vương quyền trên toàn cõi xứ Laṅkā. Ngài là đấng quân vương hạng nhất trong số các vị vua và rạng rỡ với danh tiếng được lan rộng khắp lãnh thổ và các vùng lân cận; ngài trị vì vương quốc một cách công minh ở trong một thành phố lớn tên là Pulatthī.

Tính từ thời của đại vương Vaṭṭagāmaṇi-ābhaya thì đã trải qua hơn một ngàn một trăm năm mươi bốn năm, khi ấy Giáo Pháp đang ở trong thời kỳ suy tàn và phân chia thành tông phái. Đức vua khi thấy các thiện nam tử phải chịu đựng cảnh suy thoái và phân tán của Giáo Pháp đã khởi sanh lòng trắc ẩn ở trong tâm và luôn suy tư rằng: "Làm sao ta có thể phục hưng được Giáo Pháp?"

Sau khi giao trách nhiệm lãnh đạo cho vị trưởng lão Mahākassapa cư ngụ ở núi Udumbara, đức vua đã hành phạt hàng trăm vị tỳ khưu hư hỏng, phát cho y trắng, rồi trục xuất; ngài đã làm cho Giáo Hội không còn bị ô nhiễm. Đức vua cũng đã cho xây dựng các tu viện đồ sộ có các bảo tháp như Jetavana, Pubbārāma, Dakkhiṇārāma, Uttarārāma, Veluvana, Kapilavatthu, Isipatana, Kusinārāma, và Laṅkātilaka. Ngài còn cho xây dựng nhà để hành lễ Uposatha là đại sảnh đường có kiểu kiến trúc là ngọn tháp gồm có mười một tầng và một ngàn gian phòng, lại còn có tranh vẽ và giàn dây leo các loại nữa. Đức vua đã cho xây dựng tu viện lớn tên là Jetavana được bao quanh bởi các hồ nước mát lạnh phủ đầy các loại sen xanh sen đỏ thu hút lũ chim như loài chim cu say mê mùi hương dịu dàng của vô số bông hoa các loại, lại còn được làm đẹp thêm bởi những dãy cây Bồ Đề, bảo tháp, phòng ốc, cốc liêu, và các nhà lộ thiên nữa.

Ở đó, ngài trưởng lão Mahākassapa là trưởng lão của hội chúng gồm hàng ngàn vị tỳ khưu đã cho triệu tập hội chúng tỳ khưu lại. Khi ấy, ngài trưởng lão Mahākassapa đã nói với các vị tỳ khưu rằng:

- Này các sư đệ, toàn bộ Sớ Giải được thực hiện bởi cổ nhân nhằm mục đích giảng giải các ý nghĩa tiềm ẩn trong Chú Giải của Tam Tạng không thành tựu lợi ích cho các vị tỳ khưu cư ngụ ở các quốc độ. Một số được viết ở dạng điển tích theo văn phạm của ngôn ngữ Sīhala, một số khác được viết bằng ngôn ngữ căn bản của xứ Magadha nhưng đã bị làm rối loạn do sự khác biệt giữa các ngôn ngữ. Chúng ta nên xóa bỏ sự khác biệt giữa các ngôn ngữ và thực hiện bộ Sớ Giải hoàn chỉnh không có lẫn lộn.

Các vị tỳ khưu đã nói rằng:

- Bạch ngài, như vậy trưởng lão hãy yêu cầu đức vua ra vương lệnh.

Khi ấy, đức vua và đám tùy tùng đã rời thành phố đi đến tu viện. Đức vua đã đảnh lễ hội chúng tỳ khưu đứng đầu là trưởng lão Mahākassapa rồi ngồi xuống ở một bên.

Vị trưởng lão đã nói với đức vua rằng:

- Tâu đại vương, bản Sớ Giải cho Chú Giải của Tam Tạng cần được thực hiện, đại vương nghĩ thế nào?

- Bạch ngài, tốt lắm. Trẫm sẽ ủng hộ hết mình. Hội chúng tỳ khưu hãy yên tâm tiến hành.

Sau đó, đức vua đã đảnh lễ hội chúng tỳ khưu rồi đi vào thành phố.

Lúc bấy giờ, các vị tỳ khưu trưởng lão sau khi hoàn tất việc thọ thực đã tụ hội tại ở giảng đường được xây cất bởi vua Parakkamabāhu để tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Samantapāsādikā là Chú Giải của Tạng Luật, và đã thực hiện bộ Sớ Giải tên là Sāratthadīpanī bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản. Bởi vì việc ấy có được đề cập:

1. Bản Sớ Giải ấy của bộ Chú Giải Tạng Luật được tiến hành nhằm đem lại sự thông hiểu về Luật và sự hưng thịnh của Phật Pháp.

2. Toàn bộ đã được hoàn tất với số lượng là ba mươi ngàn âm từ và có tên là Sāratthadīpanī.

Kế đến về Tạng Kinh, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Sumaṅgalavilāsinī là Chú Giải của Kinh Trường Bộ bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành bộ Sớ Giải tên là Sāratthamañjusā tập thứ nhất. Tương tợ như thế, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Papañjasūdanī là Chú Giải của Kinh Trung Bộ bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành bộ Sớ Giải tên là Sāratthamañjusā tập thứ hai. Cũng vậy, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Sāratthappakāsinī là Chú Giải của Kinh Tương Ưng Bộ bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành Sớ Giải tên là Sāratthamañjusā tập thứ ba. Cũng vậy, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Manorathapūraṇī là Chú Giải của Kinh Tăng Chi Bộ bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành Sớ Giải tên là Sāratthamañjusā tập thứ tư. Bởi vì việc ấy có được đề cập:

3. Bản Sớ Giải ấy của bộ Chú Giải Tạng Kinh được tiến hành nhằm đem lại sự thông hiểu về Kinh và sự hưng thịnh của Phật Pháp.

4. Toàn bộ đã được hoàn tất với số lượng là chín mươi sáu ngàn âm từ và có tên là Sāratthamañjusā.

Tiếp đó, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Atthasālinī là Chú Giải của bộ Pháp Tụ (Dhammasaṅganī) thuộc Tạng Vi Diệu Pháp bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành Sớ Giải căn bản và hậu Sớ Giải tên là Paramatthapakāsinī tập thứ nhất.

Tương tợ như thế, các vị đã tiến hành việc giảng giải ý nghĩa của bộ Sammohavinodanī là Chú Giải của bộ Phân Tích (Vibhaṅga) bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành Sớ Giải căn bản và hậu Sớ Giải tên là Paramatthapakāsinī tập thứ hai.

Cũng vậy, các vị đã tiến hành giảng giải ý nghĩa của bộ Paramatthadīpanī là Chú Giải của năm Tạng Vi Diệu Pháp còn lại bằng tiếng nói của xứ Magadha là loại ngôn ngữ căn bản và đã hoàn thành Sớ Giải căn bản và hậu Sớ Giải tên là Paramatthapakāsinī tập thứ ba.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

5. Bản Sớ Giải ấy của bộ Chú Giải Tạng Vi Diệu Pháp được tiến hành nhằm đem lại sự thông hiểu về Vi Diệu Pháp và sự hưng thịnh của Phật Pháp.

6. Toàn bộ đã được hoàn tất với số lượng là hai mươi bảy ngàn âm từ và có tên là Paramatthapakāsinī.

Như vậy, khi được yêu cầu bởi đức vua Parakkamabāhu, trưởng lão Mahākassapa đã cùng với hàng ngàn vị trưởng lão khác nỗ lực tụ hội lại và hoàn tất phần giải thích ý nghĩa của bộ Chú Giải Tam Tạng tương tợ như một cuộc kết tập về Pháp và Luật vậy.

Khi phần giải thích ý nghĩa được hoàn tất, nhiều hiện tượng kỳ diệu đã xảy ra như việc đại địa cầu đã rúng động bằng nhiều cách khác nhau, v.v... và chư thiên đã tán thán ca ngợi. Phần giải thích ý nghĩa này của bộ Chú Giải Tam Tạng đã được hoàn thành đúng một năm.

Về điều này, các tài liệu cổ (porāṇā) đã nói rằng:

7. Sau khi đấng Toàn Giác Vô Dư Niết Bàn được hơn một ngàn năm trăm tám mươi bảy năm, Parakkama lên ngôi vua.

8. Với sự đăng quang vương quyền được thành tựu và với sự tồn tại rạng ngời của Giáo Pháp, đức vua đã tiêu diệt kẻ thù do năng lực lớn lao của phước báu.

9. Vua Parakkamabāhu chúa tể xứ Laṅkā đã có công thực hiện sự hòa hợp các bộ phái và thanh lọc Giáo Hội.

10. Nhắm đến lợi ích của sự tăng trưởng Phật Pháp trên hòn đảo Tambapaṇṇi (Tích Lan), đại trưởng lão Kassapa ấy là vị đứng đầu hội chúng

11. đã được thỉnh cầu bởi đức vua Parakkamabāhu là nguời đã nỗ lực cho Giáo Pháp vì mong muốn Chánh Pháp được tồn tại.

12. "Sự giảng giải về ý nghĩa tiềm ẩn trong Chú Giải của các Tạng đã không đem lại lợi ích toàn diện cho các vị tỳ khưu ở khắp các nơi.

13. (Bởi vì) một số được viết dưới dạng điển tích theo văn phạm của tiếng Sīhala có bản chất khó hiểu.

14. Một số đã được tiến hành bằng ngôn ngữ của xứ Magadha nhưng được viết dưới dạng pha trộn nào đó giữa các ngôn ngữ.

15. Trong đó còn thấy có nhiều trường hợp nội dung của các đoạn văn không có chủ đề, lời giải thích bị lộn xộn, ý nghĩa lại khó hiểu.

16. Do đó, toàn bộ ở đây chưa được đầy đủ như thế này, làm sao những người xứ khác có thể hiểu được ý nghĩa?

17. Vì thế, sau khi tách phần lộn xộn giữa các thứ tiếng và nắm được toàn bộ ý nghĩa, ta sẽ làm rõ ràng, đầy đủ, không có lầm lẫn."

18. Phần giải thích Tam Tạng là phần giảng giải các ý nghĩa tiềm ẩn có tên là Sāratthadīpanī, Sāratthamañjusā,

19. Paramatthappakāsinī đã được giảng dạy bởi các vị đại trưởng lão. Phần giải thích ấy đã đem lại lợi ích cho chúng sanh thuộc tất c