BuddhaSasana Home Page

Vietnamese, with Unicode Times font


TIỂU THỪA PHẬT GIÁO TƯ TƯỞNG LUẬN

Kimura Taiken (1881-1931)
Giáo sư Triết học Phật giáo Ấn độ, Đại học Kyoto (Kyoto University)

Hán Dịch: Âu Dương Hãn Tồn
Việt Dịch: Thích Quảng Độ,
Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, Việt Nam 1969


  

THIÊN THỨ BA
THẾ GIỚI QUAN

CHƯƠNG I
TỔNG LUẬN

1-ĐỊNH NGHĨA THẾ GIỚI QUAN

Thế-giới-quan nói ở đây không có nghĩa là sẽ luận về bản chất, nguyên nhân thành lập, hay ý nghĩa của thế giới, bởi vì tất cả cái đó đã được trình bày ở thiên thứ hai, trong đề mục vũ trụ quan rồi. Mà thế-giới-quan nói ở đây cũng không có nghĩa như Weltanschauung hay cosmology, mà là về thế-giới-khởi-nguyên-luận và thế-giới-hiện-tượng-luận xem A-tỳ-đạt-ma đã khảo sát như thế nào: đó là vấn đề chúng tôi muốn bàn qua. Có thể nói đây không phải là vũ-trụ-thực-thể-luận, mà là vũ-trụ-hiện-tượng-luận về mặt sự thực.

2- THẾ GIỚI QUAN CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY.

Đối với vấn đề này, như thường lệ, trước hết phải bắt đầu từ thái độ Phật giáo Nguyên thủy. Như đã nói nhiều lần, mục đích của Phật là ở việc "Chuyển mê khai ngộ", nhưng để đạt đến chuyển mêkhai ngộ, đức Phật chủ trương "trước hết phải nhìn thằng vào sự thực". Nếu không nhìn sự thực mà mng cấu tạo đối tượng tôn giáo thì không thể bảo là sự khai ngộ chân thật được. Chính do ý nghĩa ấy mà đức Phật đối với thế-giới sự thực,có thế-giới-quan. Điều này tưởng không cần nói ai cũng đủ hiểu.

Song, có điều chúng ta cần chú là: Phật tuy trương như thế, nhưng cái gọi là  "như-thực-tri-kiến" của Phật không phải chuyên lấy việc truy cứu làm chủ, mà là đối với thề giới sự thực phải phê phán giá trị của nó một cách chính đáng. Là vì sự phê phán chính đáng về giá trị của thế giới sẽ trực tiếp cho chúng ta những nguyên lý chỉ đạo cho yêu cầu tôn giáo, còn truy cứu sự thực thì không những rất gián tiếp mà còn có khi vì quá câu nê vào sự truy cứu ấy mà xao nhãng sự thạưc tu vốn như cấu tất yếu của tôn giáo. Do ý nghĩa ấy nên đức Phật tuy chủ trương “nhìn thẳng vào sự thật", nhưng nếu một sự kiện nào không có liên quan đến trực tiếp đến việc giải thoát mà ta cứ cố lưu tâm chú ý, thì Phật cũng ngăn cản. Thế íơi này có biến biến tế hay không biến biến tế? Thân, tâm là một hay khác? Người sau khi chết có linh hồn hay không? Đối với những vấn đề đó Phật không trả lời. Cho nên, đứng về phương diện thế giới quan mà nhận xét thái độ của Phật, thì Phật tuy lấy thế gian làm đối tượng quan sát, nhưng đối với thế giới vật lý, sinh vật hiện tượng, có thể nói Phật không quan tâm mấy. Bởi thế, nếu ai bảo đức Phật đã luận cứu tất cả sự tượng từ thiên văn, địa lý đến động vật, thực vật thì, dĩ nhiên, đó là sự hiểu lầm rất lớn.

Nhưng thế giới hiện tượng luận (quan sát về thế giới vật lý, và thế giới sinh vật) của Phật giáo cứu kính đã phát sinh như thế nào? Khi Phật nói về giá trị của thế giới, tuy không phải lấy thế sự thực làm mục đích, nhưng có khi không thể tránh khỏi đung chạm của nó. Nếu lìa sự thật mà chỉ bàn đến giá trị thì điều đó không thể nào làm được. Cho nên, khi Phật thu dụng thế-giới-quan đương thời được lưu hành mà nói về núi Tu-Di, đề cập đến thuyết Nam-diêm-phù-đề, nói đến địa ngục, quỷ thần, v.v… thì hiển nhiên, không nhiều thì ít, đã đụng chạm với vấn đề sự thực, và đó là khởi đầu của sự quản sát về thế giới thực sự của Phật giáo. Điều này tuy có vẻ vụn vặt, nhưng trong các kinh điển được coi là xưa nhất đã thấy rãi rác rất nhiều. Có điều đáng tiếc là cho đến nay chúng ta vẫn chưa được biết những điều đó được thu dụng vào thời đại nào? Nhưng điều đáng tin cậy là đức Phật trong khi thuyết minh, thường đã thu dụng thế-giới-quan ở thời đại Phật, hoặc thế-giới-quan được lưu hành ở các địa phương khác. Tại sao? Vì chính ngay sự thuyết minh đó cũng quyết không phải là mục đích của Phật, cho nên không thể cho đó là sáng kiến của Phật, cũng vì lý do ấy.

3- THẾ-GIỚI-QUAN CỦA A-TỲ-ĐẠT-MA.

Điều chắc chắn là thế-giới-quan sự thực của Phật giáo Nguyên thủy là nói theo học thuật thường thức của đương thời. Do đó, theo ý nghĩa này, thế-giới-quan của Phật giáo, vấn đã cổ kính, lại càng có vẻ cổ kính hơn, bởi vì tự nó đã chẳng có mấy đặc sắc. Có lẽ thế-giới-quan sự thực có đức Phật đã cải tạo ít nhiều quan niệm đương thời để biến nó thành của Phật giáo, vì đặc đặc sắc của Phật giáo vốn là thu dụng những tư tưởng thời bấy giờ rồi biến đổi để trở thành một trào lưu Phật giáo. Nhất là đến các vị luận sư của A-tỳ-đạt-ma dần dần đã coi thế-giới-quan này là một vấn đề tự thân cần phải luận cứu, và cũng đã dần dần biến cải nó thành một trào lưu Phật giáo.

Chú ý của Phật giáo từ xưa vẫn cho rằng ta có thể điều hòa giữa thế-giới-quan luân-lý-tâm-lý và thế-giới-quan sự thực. Nhưng một khi đã tiến đến giai đoạn được cải tạo thì tất cả không còn bị hạn chế trong cái thế-giới-quan nhất-ban của đương thời nữa. Tức là, ngoài thế-giới-quan của Bà-la-môn-giáo, của Kỳ-na-giáo, cuối cùng người ta đã thấy thế-giới-quan của Phật giáo cũng được thành lập một dòng riêng. Do ý nghĩa ấy, khi nghiên cứu sự phát đạt của thế-giới-quan Phật giáo, một mặt chúng ta phải chú ý tới cái thế-giới-quan nhất ban của đương thời, mặt khác, đồng thời lại phải cố gắng tìm hiểu cái quá trình và nguyên do phát đạt của chính Phật giáo nữa.

4- TÀI LIỆU VỀ THẾ-GIỚI-QUAN.

Song, những tài liệu liên quan đến sự phát đạt của thế-giới-quan Phật giáo như thế nào? Dĩ nhiên, nếu đề cập đến tất cả thì tất nhiên, ở đây chúng tôi chỉ nêu lên những tài liệu chủ yếu mà thôi.

Trước hết là tài liệu rãi rác trong A-Hàm-Bộ, nhất là những tài liệu nhất trí giữa Hán văn và Ba li. Những tài liệu này tuy không thể bảo là Nguyên thủy, nhưng ít ra chúng cũng có thể được coi là gần với nguyên thủy. Nếu sưu tập thêm, thì ngoài Trường-A-Hàm, Trung-A-Hàm ra, trong Tạp-A-Hàm và Tăng-Nhất-A-Hàm cũng có rất nhiều. Nhất là trong A-ân-cô-tha-lạp bằng văn Ba li hiện có rất nhiều tài liệu (chẳng hạn trong Anguttara l,p. 227 và Vô-vi-pháp, p. 59, v.v…, nói: "Một mặt trời mặt trăng chiếu khắp một thế giới, một nghìn thế giới cũng như thế. Trong nghìn thế giới, có nghìn mặt trời, nghìn mặt trăng, nghìn núi Tu-Di, nghìn diêm-phù-đề, nghìn Câu-đa-ni, nghìn Uất-đan-việt…”). Trước tiên chúng tôi hãy căn cứ theo những tư liệu này để nghiên cứu thế-giới-quan Phật giáo Nguyên thủy, nhưng đồng thời, chúng tôi sẽ không quên đem so sánh nó với thế-giới-quan đã phát đạt sau này.

Với dụng ý trên đây nên bước thứ hai cần phải nghiên cứu những tài liệu còn truyền lại trong văn Ba li, Phạm ngữ và Hán văn. Tựu trung về phương diện Ba li thì chủ yếu là Bản-sinh-đàm (VI, 125, và p, 432), hoặc là tài liệu trong A-tha-li-nị, v.v… Về phương diện Phạm mgữ thì có Thiên-nghiệp-thí-dụ, Đại-sự (tham chiếu Kirfel; Die Kosmographie der Inder S. 186), v.v… Nhưng tài liệu trọng yếu nhất về vấn đề này là bản Hán dịch Kinh-Lâu-Thán (kinh Thế Khởi).  Bộ kinh này được dịch từ Trường-A-Hàm, quyển 18 đến 20 (do Phật-đà-da-xá và Trúc-Phật-niệm cùng dịch vào thời Hậu Tần). Những bản dịch khác thì có Khởi-Thế-Kinh, 10 quyển (do Xà-na-quật-đa dịch đời Tùy); Thế-nhân-bản-kinh, 10 quyển (do Đạt-ma-cấp-đa dịch, cũng đời Tùy). Tất cả có các phẩm sau đây:

1- Diêm-phù-đề-châu-phẩm; 2- Uất-đan-việt-phẩm; 3- Chuyển-luân-thánh-vương-phẩm; 4- Địa-ngục-phẩm; 5- Long-điểu-phẩm; 6- A-tu-long-phẩm; 7- Tứ-thiên-vương-phẩm; 8- Đao-lợi-thiên-phẩm; 9- Tam-tai-phẩm; 10- Chiến-đấu-phẩm; 11- Tam-trung-kiếp-phẩm; 12-Thế-bản-duyên-phẩm.

Tất cả những tài liệu trên đây được thành lập vào thời gian nào thì điều này vẫn chưa được rõ lắm, nhưng có điều chắc chắn chúng là những sản vậ Tam-thế-thực-hữu của thời kỳ mà nên thần học A-tỳ-đạt-ma đã được xây dựng.

Trong lần kết tập thứ tư, những kinh điển thuộc loại này được phụ và Trường-A-Hàm (lúc đầu, kinh văn và thế-giới-quan đích xác đã thuộc bộ loại, điều cứ xem có hai bản dịch khác cũng đủ rồi). Do đấy thế-giới-quan Phật giáo đã được thống nhất, về hình thức tuy đã được nhất định, nhưng nếu đem so sánh nó với những sự tập hợp sau này, thì về nhiều phương diện, nó chưa được luận cứu đến.

Thế-khởi-kinh, về mặt vật chất, tuy là A-tỳ-đạt-ma, nhưng trên danh nghĩa thì vẫn thuộc Khế-Kinh. Tuy nhiên, về danh nghĩa, nếu đặt nó vào địa vị A-tỳ-đạt-ma thì đó chính là "Phật-thuyết-lập-thế-a-tỳ-đàm-luận" (10 quyển, do Chân Đế dịch, Đại chính, 32, trang 173-226). Bộ luận chia các chương thành 25 phẩm đối lại với 10 phẩm trong kinh Thế-Khởi. Đó là:

1- Địa-động-phẩm; 2- Nam-diêm-phù-đề-phẩm; 3- Lục-đại-quốc-phẩm; 4- Dạ-xoa-thần-phẩm; 5- Lâu-xà-kỳ-lợi-tượng-vương-phẩm; 6- Tứ-thiên-hạ-phẩm; 7- Số-lượng-phẩm; 8- Thiên-trụ-xứ-phẩm; 9- Hoan-hỷ-viên-phẩm; 10- Chúng-xa-viên-phẩm; 11- Ác-khẩu-viên-phẩm; 12- Tạp-viên-phẩm; 13- Ba-lợi-dạ-đa-viên-phẩm; 14- Đề-đầu-lại-tra-thành-phẩm; 15- Tỳ-lưu-lặc-xoa-thành-phẩm; 16- Tỳ-lưu-bác-xoa-thành-phẩm; 17- Tỳ-sa-môn-thành-phẩm; 18- thiên-phi-thiên-chiến-đấu-phẩm; 19- Nhật-nguyệt-hành-phẩm; 20- Vân-hà-phẩm; 21-Thụ-sinh-phẩm; 22- Thọ-lượng-phẩm; 23- Phẩm-địa-ngục (trong đó có 10 phẩm nói 11 địa ngục); 24- Tiểu-tam-tai-phẩm (trong đó Tật-dịch-đao-binh và Cơ-ngã ba phẩm); và 25- đại-tam-tai-phẩm (hỏa tai).

Nội dung các phẩm trên đây là lấy thế giới hiện tượng làm nền tảng để nói về những hoạt động của các loài hữu tình trong đó. Tuy mang cái tên là "Phật thuyết" nhưng thật ra nó đã được các vị luận sư của A-tỳ-đạt-ma sau này chỉnh lý, do đó, chắc chắn ta có thể coi nó đã được chế tác theo kinh Thế-Khởi.

Thế-giới-quan của Phật giáo, đến đây đã dần dần được chỉnh lý, chế tác và, đến một trình độ nào đó, được xử lý như một đề mục độc lập để rồi cuối cùng đã được thống hợp thành một phân khoa trong các A-tỳ-đạt-ma luận thư. Trước hết là Thi-thiết-luận bản Hán dịch tuy có một phẩm Nhân-Thi-Thiết gồm 7 quyển (Đại chính, 26), nhưng ở Tây Tạng, ngoài Nhân-Thi-Thiết ra còn có Nghiệp-Thi-Thiết và Thế-Gian-Thi-Thiết ba phẩm. Trong phần phụ lục của hai phẩm đầu, De la Valleepoussin giới thiệu tác giả là Thế Thân và Xưng Hữu. Phẩm Thế-gian-thi-thiết tức là luận về thế-giới-quan mà chủ yếu là căn cứ vào kinh Thế Khởi trong Trường-A-Hàm và lấy đó làm phong thái để luận cứu của A-tỳ-đạt-ma. Điều này đã được thừa nhận ở thời đại Long Thụ, cho nên trong luận Trí Độ quyển 2 có nói như sau:

"Có người cho rằng trong sáu phần A-tỳ-đàm thì Phân-biệt-thế-xứ-phận thứ 3 gồm 8 phẩm (kinh Lâu Thán cũng đặc vào phần thứ 3 trong 6 phấn) là do Mục Kiền Liên trứ tác (Đại chính, 25, trang 70, thượng).

Nghĩa là, trong sáu bộ luận A-tỳ-đạt-ma (Lục-túc-luận của Hữu Bộ?), Thi-thiết-luận được đặt vào hàng thứ 3. Mà phần chú thích thì căn cứ vào kinh Lâu-Thán, cho nên, về điểm này, đã ám chỉ luận Thi-Thiết đã được thoát thai từ kinh Thế-Khởi trong Trường-A-Hàm. Vả lại, trên thực tế, đem đối chiếu giữa Thế-Khởi kinh và Thế-gian-thi-thiết, người ta thấy có nhiều điểm nhất trí, đó là một sự thật không thể phủ nhận. Điều này chúng tôi đã trình bày qua trong "A-tỳ-đạt-ma-luận-nghiên cứu", thiên thứ 3.

Về Hán dịch, luận Thi-Thiết tuy chưa được truyền một cách toàn thể, nhưng tại Ấn Độ, nó mang một ý nghĩa rất trong yếu, không những là một trong Lục-túc-luận của Hữu Bộ, mà đối với các bộ khác, nó cũng được rất coi trọng. Cho nên, Thế-gian-thi-thiết-luận đã được coi như một quyền uy về thế-giới-quan của Phật giáo. Nhất là trong Hữu Bộ Tôn, tức là trong các luận bộ khác, cũng là đề cập thế-giới-quan (chẳng hạn như Tập-dị-môn-túc-luận, quyển 11, thuyết minh về ngũ-thú, quyển 17, thuyết minh về Thất-thức-trụ, quyển 19, thuyết minh về Cữu-hữu-tình-cư; rồi đến Pháp-uẩn-túc-luận quyển 10 đến 12 thì có Căn-phẩm, Đa-giới-phẩm, Duyên-khởi-phẩm, và Thức-thân-túc-luận quyển 2 thì có Bổ-đặc-già-la-uẩn; sau hết, Phẩm-loại-túc-luận, quyển 6 nóI về Dị-sính-pháp, và quyển 8 thuyết minh về Cữu-hữu-tình-cư, v.v…). Đến khi tập hợp lại thì, về thế-giới-quan, luận Thi Thiết được coi là đặc biệt trọng yếu. Luận Đại-tỳ-bà-sa, vì là giải thích luận Phát Trí, nên không có chương đặc biệt về thế-giới-quan. Tuy nhiên, cũng thỉnh thoảng có chỗ nói đến thế giới và, về điểm này, đã lấy tài liệu từ Thế-gian-thi-thiết. Trong luận Pháp-Thắng-A-Tỳ-Đàm-Tâm tuy không có chương nào nói vể thế giới, nhưng trong luận A-tỳ-đạt-ma Câu xá của Thế Thân, vốn là tập đại thành của Pháp-thắng-a-tỳ-đàm-tâm luận, thì tong chương thứ 3, có lập một phẩm là Thế-gian-phẩm mà tôi cho rằng đã phỏng theo thể tài của luận Thi Thiết kể trên. Mà tinh thần phê bình của luận Câu xá tựa hồ còn triệt để hơn cả tinh thần đó trong Đại-tỳ-bà-sa, và nếu đem biểu hiện nó vào thế-giới-quan trong Thế-gian-phẩm thì, theo một ý nghĩa nào đó, có thể nói nó đã đạt đến điểm cao nhất trong các A-tỳ-đạt-ma luận thư. Chính vì thế mà xưa nay hễ cứ đề cập đến thế-giới-quan của Phật giáo là lập tức người ta nghĩ ngay đến Thế-gian-phẩm trong luận Câu xá. Biện-duyên-khởi-phẩm trong Thuận-chính-lý-luận, hoặc Hiển-tôn-luận chắc chắn đã dựa theo những tài liệu trên đây làm nền tảng tiêu chuẩn.

5- SỰ PHÂN LOẠI THẾ GIỚI.

Trước khi đi sâu vào đề tài chính, tôi tưởng cần nói qua về phương pháp phân loại thế giới đã.

Trong Phật giáo, thế giới (tức là thế gian) có hai nghĩa: một là vật khí thế gian, và một là hữu tình thế gian. Khí thế gian là chỉ nơi cư ngụ của các loài hữu tình, tức thế giới vật khí; còn hữu tình thế gian là chỉ cái tổng thể của sinh vật cư ngụ trong thế giới vật khí này. Hai cái đó tuy vốn không thể rời nhau, nhưng để tiện cho việc quan sát nên chia thành hai loại như thế: đó là cái thông lệ của nền giáo học Phật giáo. Do đó, chúng tôi tưởng cứ theo cách phân loại trên đây để quan sát thế-giới-quan của Phật giáo cho tiện lợi. Song, thế-giới-quan của Phật giáo vốn quan sát cái gọi là "Hữu tình thế gian", vì đó là chủ yếu, nên trong khí-thế-gian-luận cũng bao hàm cả Hữu-tình-luận: điều tưởng không cần nói ai cũng đủ hiểu.

6- SÁCH THAM KHẢO.

Khi nghiên cứu về vấn đề này, ngoài những tư liệu đã nói ở trên, những sác sau đây cũng là những tài liệu chủ yếu cần tham khảo:

a) Viên-Huy, Câu xá luận tụng sớ, quyển 8 đến 12.

b) W, Kirfel, Die Kosmographie (2te Abschnitt, Die Kosmographie der Buddisten) 1920 Bonn

c) Hastings, Encyclopaedia of Religion and Ethics (vol. IV, Phàm phu. 129-138); Cosmogony and Cosmology (Buddist) by De la Vallee Poussin.

-ooOoo-

 

CHƯƠNG THỨ II
THẾ-GIỚI-QUAN CỦA BÀ-LA-MÔN-GIÁO
(Đặc biệt về vật khí thế gian)

1- LỜI TỰA.

Như đã nói ở trên, cơ sở của thế-giới-quan Phật giáo là nhân-sinh-quan. Cái lý do tại sao chủ ý của Phật giáo Nguyên thủy có thể nói là luân-lý-duy-tâm-luận, do tâm trạng và hành vi thiện ác mà khia triển các loại thế giới cũng do đó. Cái gọi là Tam-giới chính là kết quả sản sinh từ nhân-sinh-quan, tức là tùy theo trạng thái tinh thần của ta mà đặt ra những giai đoạn thiền định tu hành, và để thích ứng điểm này, đem chia hữu tình giới thành ba thái là dục giới, sắc giới và vô sắc giới, đại thể đó là cách phân loại hữu tình. Cứ theo cái danh nghĩa ấy thì toàn chỉ cho cảnh giới tinh thần, cho nên, đối với vật lý cổ truyền, dĩ nhiên nó mang một ý nghĩa rất khác.

Nhưng giáo pháp của Phật giáo Nguyên thủy đã dần dần được chỉnh lý, và các phân loại trên không còn chỉ hạn định ở cảnh giới tinh thần nữa, mà để thích ứng, đã nói có những thế giới đặc thù: đó là nguyên do đã từ nhân sinh quan mà khoáng trương thế-giới-quan vậy. Sự chuyển hướng này đã có rất sớm, đến Trung-A-Hàm, quyển 43, trong Phân-Biệt-Ý-Hành-Kinh thì cho ý nghĩa giữa tam giới của cảnh địa thiền định và tam giới của địa vị hữu tình tiên thiên là tương đồng, không có sai khác. Như vậy, vũ-trụ-hình-thái-luận của Phật giáo là kết quả của sự thống hợp giữa tam giới sống này với thần thoại không tưởng được lưu hành ở thời bấy giờ,cho đến thiên văn học và vật lý học để thuyết minh. Đương nhiên, trong tam giới, vô sắc giới là sự tồn tại tinh thần, không thuộc vật chất giới vì không có hình thái, cho nên không ở trong thế giới hiện tượng luận.

2-THẾ-GIỚI-QUAN CỦA VỆ-ĐÀ VÀ ÁO-NGHĨA-THƯ.

Vũ-trụ-quan của Lê-Câu-Vệ-Đà hoàn toàn là vật lý. Lúc đầu chia thế giới thành trời và đất để quan sát, rồi dần để khảo sát đến trung-gian-giới, và cuối cùng đã đi đến sự thành lập thuyết Tam giới. Tức là, trên cõi đất này gọi là địa giới, nơi nào có hiện tượng khí lưu thì gọi là không giới; và nơi nào có mặt trời, mặt trăng và tinh tú thì gọi là thiên giới; hay còn gọi bằng một danh từ riêng là Svar, bhuvar, bhùr. Tam giới này trở thành xứ sở có giai đoạn, mà trong đó lấy các loại thần làm đầu và thần được nhận là nơi y chỉ của hết thày sinh vật.

Song, sự tưởng tượng của người ta còn đi xa hơn mà chia tam giới thành những khu biệt nhỏ nữa. Trong Lê-Câu--Vệ-Đà (R, Vô-vi-pháp, VII, 87, 5), đã chia thành trời ba gia đoạn, đất ba giai đoạn, và cứ theo luận lý ấy, không cũng có ba giai đoạn, đó là manh nha thuyết Tam-giới-cửu-địa (ba cõi, chín nơi) vậy. Địa vị của các thần và các loại hữu tình sống trong ba cõi này có cao có thấp khác nhau, đó là cách phân loại đã phát xuất từ thuyết trên. Đương nhiên, theo chỗ tôi biết, trong các văn thư Vệ Đà vẫn chưa nói rõ chư thần và hữu tình phối hợp với tam giới, cửu địa như thế nào. Việc lấy thái dương phối với trời, lấy gió phối với không, lấy lửa phối với đất mà làm vị chủ thần thì chỉ đã manh nha trong Lê-Câu-Vệ-Đà để rồi được thành lập vào thời đại Phạm Thư. Đấn Phạm Thư hoặc Áo-nghĩa-thư thì lại chia ra tám cõi (bát giới) hay chín cõi (cửu giới) để nói rõ địa vị của thần và hữu tình. Chẳng hạn như trong Bách-Đạo-Phạm-Thư kể có tám thần: 1-Hỏa thần, 2-Địa thần, 3-Phong thần, 4-Không thần, 5-Thái đương thần, 6-Thiên thần, 7-Nguyệt thần, 8-tinh thần. Lại trong Bá-lị-cáp-áo-nghĩa-thư thì, phía trên cõi địa giới, kể có chín cõi là: 1-Phong giới, 2-Không giới, 3-Càn thát bà giới, 4-Thái dương giới, 5-Nguyệt giới, 6-Tinh giới, 7-Thiên giới, 8-Nhân đà la giới, 9-Sinh chủ giới. nhìn một cách đại quan thì chư thần trong các cõi đó không có từng bậc, nhưng trong tam giới thì mỗi thần thì chiếm địa vị riêng, mà trung tâm là Sinh chủ. Có thể nói đó là thế-giới-quan từ thời đại Phạm Thư cho đến Áo-nghĩa-thư.

Nhưng, cái hình thái của thế giới này như thế nào? Dĩ nhiên, vào thời đại Lê-câu-vệ-đà, vấn đề này vẫn chưa biểu hiện một các rõ ràng. Trên đại thể, tựa hồ nó không ngoài tưởng pháp trời che, đất chở. Trong Lê-câu-vệ-đà có chỗ ví trời đất như hai bánh xe mà trong đó có cái trục làm liên lạc, nhưng đến Bách-Đạo-Phạm-Thư thì lại nói hình thái thế giới như con rùa và con voi. Nghĩa là, trời xanh tương đương với mai rùa, đất tương đương với bụng, còn trung gian tương đương với không giới. Rồi lại nếu tiến lên một bậc nữa mà chỉnh lý là thế-giới-quan trong Ái-đà-lệ-da-áo-nghĩa-thư. Thuyết này cho rằng thế giới này trên dưới đều có nước bao bọc, trong đó có không (ánh sáng) và đất (chết). Song, ở thời đại cổ Bà-la-môn-giáo (tức là Lê-câu-vệ-đà đến thời đại Kinh Thư), những sản vật không tưởng do đời sau sáng tạo như những thuyết về các núi, các sông và các châu, vẫn chưa phát đạt một cách rõ rệt. Danh từ Tu-di-sơn ta đã thấy Suy-đề-lợi-da-áo-nghĩa-thư, nhưng nó chưa được làm trung tâm để nói về hình trạng của thế giới. Về điểm này, bất luận tại đâu cũng đều như thế cả. Chẳng hạn như thế-giới-hình-thái-luận của dân tộc cổ đại thì lấy chỗ đất thực tế là nơi đang cư trú làm cơ sở, nên đối với những truyền thuyết không tưởng, luôn luôn dựa vào thực tế để quan sát rồi sau mới đúc kết. Như vậy, dĩ nhiên là đối với các nước khác, tức toàn cõi Ấn Độ, người cổ đại vẫn chưa có một dự tưởng toàn thể. Thế-giới-hình-thái-luận đại quy mô thật sự chỉ phát sinh sau thời đại các học phái xuất hiện mà thôi. Tức là, khi dân tộc cổ đại đi xuống phía nam, biêt có núi tuyết, có biển, thì lúc đó, ít ra, mới biết ngoài Ấn Độ còn có các nước khác.

3-THẾ-GIỚI-QUAN TÂN-BÀ-LA-MÔN-GIÁO.

Thế-giới-quan Ấn Độ vào thời đại các học phái phát đạt đại thể có ba loại: 1) Thế-giới-quan Tân-bà-la-môn-giáo, 2) Thế-giới-quan Phật giáo, 3) Thế-giới-quan Kỳ-na-giáo. Trong khoảng hỗ tương giữa ba tổ chức này tuy có ít nhiều điểm cộng thông, nhưng cũng có chỗ bất đồng rất lớn. Bởi vì tuy cũng lấy tư tưởng cổ đại kể trên làm bối cảnh, nhưng cũng có phái khảo sát riêng, do  đó dần dần đã đi đến chỗ bất đồng. Tựu trung, thuyết của Phật giáo đã có nhiều điểm bất đồng với thuyết Kỳ-na và Tân-bà-la-môn-giáo để rồi cuối cùng để hình thành một loại phát đạt đặc hữu. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, thế-giới-quan của Phật giáo chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm được biến chế từ cái thế-giới-quan lưu hành ở đương thời, cho nên, muốn hiểu rõ thế-giới-quan Phật giáo, tất nhiên ta phải biết qua thế-giới-quan của Tân-bà-la-môn-giáo hay của Kỳ-na-giáo.

Song, ở đây vì vấn đề quá phức tạp, không thể nói hết được, nên chúng tôi chỉ có dụng ý là trình bày một cách đơn giản thế-giới-quan của Tân-bà-la-môn-giáo để tiện việc so sánh sau này mà thôi.

Nhưng tài liệu về thế-giới-quan của Tân-bà-la-môn-giáo như thế nào? Những tài liệu xưa nhất trong Ma-ha-bà-la-da và thế-giới-quan trong Ma-nô. Kế đến là những tài liệu được chế tác trong các loại Bá-Lạp-Na luận về vấn đề này. Bá-Lạp-Na (phạm) chủ yếu có 18 loại: 1-Đa-ca-ngõa-tha-bá-lạp-na, 2-Ba-quy-bá-lạp-na, 3-Bà-la-mãn-đa-bá-lạp-na, 4-Bá-la-man-ngõa-y-ngõa-nhĩ-tha-bá-lạp-na, 5-Đức-duy-ba-ca-ngõa-tha-bá-lạp-na, 6-Ca-nhĩ-ca-bá-lạp-na, 7-Khố-lư-mã-bá-lạp-na, 8-Lăng-già-bá-lạp-na, 9-Ma-lư-can-dề-da-bá-lạp-na, 10-Ma-ca-bá-lạp-na, 11-Phạ-đà-ma-bá-lạp-na, 12-Thấp-bà-bá-lạp-na, 13-Tư-can-đà-bá-lạp-na, 14-Ngõa-ma-na-bá-lạp-na, 15-Ngõa-lạp-cáp-bá-lạp-na, 16-Ngõa-do-bá-lạp-na, 17-Duy-tư-nô-bá-lạp-na, 18-Na-lạp-lị-bá-lạp-na.

Những đề tài mà tất cả Bá-lạp-na trên đều nói đến là: 1-Đại khởi nguyên của thế giới, 2-Phá hoại, tân tạo, 3-Thần phổ luận, 4-Sự chi phối của Ma-Nô (Manu) và, 5-Lịch sử của các Thiên-tô-hệ. Năm đề này được coi là năm tướng của các Bá-lạp-na (nhưng trongNa-lạp-lị-da không thấy thuyết minh về thế-giới-quan). Các giáo phái Ấn Độ lấy Bá-lạp-na làm nên tảng để thành lập, bởi thế nó được coi là Thánh điển của Tân-bà-la-môn-giáo. Nhưng người ta không rõ niên đại thành lập Bá-lạp-na. Còn về tên sách thì trong Bà-lợi-cáp-đức-áo-nghĩa-thư tuy đã nói đến tên Bá-lạp-na, nhưng thời gian nào nó được trở thành định hình thật sự thì người ta vẫn chưa được rõ. Theo tôi, bất luận loại nào đi nữa cũng đều được thành lập sau kỷ nguyên. Vì tư tưởng nền tảng của Bá-lạp-na ta thấy rải sác khắp nơi trong cách thuyết pháp của Số Luận. Nhưng từ đó trỡ về trước tất kính như thế nào thì hiện nay tựa hồ chưa thể quyết định được.

A-ma-la-câu-cáp bảo đặc sắc của Bá-lạp-na là ngũ tướng, nhưng A-ma-la-câu-cáp này là một trong chín thứ của báu của Vương Triều Duy-khắc-la-ma-loi-tha.  Uy-nhĩ-tốn nói: cốt-tử của Bá-lạp-na được thành lập trước kỷ nguyên. Nhưng trong phần chú thích lại bảo điềunày không đúng. Do đó, nếu bảo thế-giới-quan trong bá-lạp-na là uyên nguyên của vũ-trụ-quan Phật giáo thì không đúng, mà coi vũ-trụ-quan Phật giáo ngang hàng với thế-giới-quan Bá-lạp-na mới thích đáng. Tuy nhiên, nói theo cách thức, về mặt hệ thống tư tưởng, ta vẫn có thể coi là tiên khu của Phật giáo. Bởi thế, ở đây tôi tưởng nên trình bày qua những yếu điểm của nó.

4- THẾ GIỚI KHỞI NGUYÊN LUẬN CỦA BÁ LẠP NA.

Trước hết, hãy nói một cách đơn giản về thế giới khởi nguyên luận. Từ Lê-câu-vệ-đà đến Khởi nguyên luận của Áo Nghĩa Thư, tôi đã có dịp trình bày qua, nhưng về Khởi nguyên luận của Bá-lạp-na thì chưa lần nào đề cập đến.

Bắt đầu từ áng thơ tự sự vĩ đại là Ma-ha-ba-la-đa (Mahabharata), nhất là Bá-lạp-na, có thể nói người ta đã lấy tín ngưỡng thông tục làm trung tâm. Tức là xuất phát từ Đa thần giáo đương thời, người ta muốn lấy Tỳ-nữu-noa hay Thấp bá làm cơ sở tín ngưỡng thống nhất, rối từ đó tiến lên mà kế thừa Bà-La-Môn-Giáo cổ phong, đồng thời ở một phương diện khác, lại muốn gây một sự cải tạo trong dân tâm. Do đó, đối với thế giới khởi nguyên luận này, trong đó dĩ nhiên cũng đã đưa ra một lập trường mới, nếu nói đến yếu tố của nó là kết hợp một nền triết học mới. Kết quả, trong nền thần thoại mới, Phạm Thiên đã dần dần mất thế lực mà Tỳ-nữu-no và Thấp-bà lại chiếm địa vị ưu việt, nhất là thần thoại Tỳ-nữu-noa được ứng dụng một cách rất phổ biến. Tức là Tỳ-nữu-noa quyền hiện (avatàra) rất nhiều hình để cứu chúng sinh. Đặc biệt là về thế-giới-sáng-tạo-quan, khi Tỳ-nữu-noa nhập thiền định tại Tây-sa-la-dà, thì từ rốn (rún) sinh ra bông sen, rồi từ bông sen đó sinh ra Phạm Thiên mà tạo dựng thế giới. Song, khi nhiều triết thuyết đã phát sinh nếu chỉ thuyết minh thế giới khởi nguyên luận theo thần thoại thông tục, thì không thể làm thỏa mãn tâm ý của người ta. Để bổ cứu cho khuyết điểm đó mà triết học hóa thần thoại chính là Số-luận-hữu-thần. Tức là, thuyết này lấy thần Tỳ-nữu-noa (cũng gọi là Phạm) làm nguyên lý tối cao, rồi dưới đó thống hợp hai nguyên lý tự tính và thần ngã, rồi từ đó mở rộng ngã mạn, ngũ duy, mười một căn, v.v… mà tạo dựng thế giới này. Từ cuối thời kỳ Áo-nghĩa-thư đến thời đại các học phái, về mọi phương diện, tư tưởng Số Luận, tựa hồ đã chi phối tư tưởng giới Ấn Độ. Và thế lực này cũng liên hệ đến cả thế giới khởi nguyên luận của Bá-lạp-na.

Nhưng tư tưởng Số Luận và thần thoại thông tục đã được thống hợp dưới hình thái nào để mới trở thành Khai-tịch-luân của Tân-bà-la-môn-giáo? Nghĩa là, giữa Ma-ha-bà-la-đa, Ma-nô hay Bá-lạp-na tuy có rất nhiều điểm bất đồng, nhưng lẽ tự nhiên là cũng có những quan niệm cộng thông, điều đó tưởng không cần nói ai cũng biết. Giờ tôi hãy thử trình bày khai-tịch-luân của Ma-nô và khai-tịch-luận của Tỳ-nữu-noa-bá-lạp-na như sau (căn cứ theo Hasting ‘sắc, thanh, hương, vị, xúc Encyclopaedia of Religon and Ethics vol. VI, phàm phu, 155-161).

Pháp-điển Ma-nô chương thứ nhất, nói từ sự sáng lập thế giới đến quá trình phát sinh các chế độ xã hôi. Theo thuyết này thì ban sơ vũ trụ là một thể hỗn mang, nghĩa là tất cả ở trong trạng thái mờ mịt. Trong thời gian này, đấng vĩnh viễn tự tồn muốn phá tan màn hắc ám để triển khai vạn hữu, bèn trước hết từ tự thể sinh ra nước (ta có thể so sánh các thuyết như Nguyên thủy thuyết từ thời đại Lê-câu-vệ-đà đến Phạm Thư, A-tỳ-tư-thuyết của A-tỷ-luân, dự ưởng nước Tha-lệ-tư, đất Hy-bá-lai bảo từ đấng tự tồn sinh ra nước). Rồi trong nước ấy đấng tự tồn lại gieo hạt giống để trở thành quả trứng sáng chói như ánh thái dương, và trong trứng đó Phạm Thiên hiển hiện (ở đây ta có thể tưởng tượng được cái nguyên lý tối cao của thời đại Vệ-Đà: sự quan hệ vật chất và nhân cách thần = "vật chất  => nhân cách thần". Phạm Thiên ở trong quả trứng vàng này trải qua một năm sau thì chia nó thành hai phần: phần trên là trời, phần dưới là đất, ở giữa là không, như thế đã tạo thành tam giới, Phạm Thiên lại muốn thành lập hữu tình giới, bèn trước hết từ tự thể tạo ra ý, từ ý tạo ra ngã mạn, rồi bắt đầu từ ngã mạn đại ngã (giác) mà tạo ngũ duy, ngũ căn, rồi lại từ ngũ duy, ngã mạn tạo nơi y chỉ của sinh mệnh, rồi sau hết từ đó tạo thành ngũ đại để hoàn thành hết thảy. Về điểm này, thuyết Số Luận tuy có chỗ rất bất đồng, nhưng trên tinh thần không sai biệt mấy: đó là điều ta cần ghi nhận. Từ đó, qua đặc chất của những tác dụng hữu tình, đã phát sinh hết thảy, như núi, sông, cỏ, cây, cho đến Tam-vệ-đà, từ tính và thiện, ác, v.v… tôi cho rằng đây là một thuyết minh rất nhất quán.

Nhưng, theo Ma-nô, hay Ma-ha-bà-la-da thì thế giới này không phải vĩnh cửu, tương tục, mà sau khi được sáng tạo, nó phải trải qua các giai đoạn tuần hoàn, biến thiên để rồi cuối cùng lại trở vể cái trạng thái bản lai mờ mịt của nó. Điều này đến các học phái đã đề xướng cái gọi là Kiếp-diệt-thuyết. Về năm, tháng, theo Ma-nô, xã hội nhân gian xoay vần trong bốn tời kỳ gọi là bốn du-dà: khố-lợi-tha, thoát-lợi-tha, la-ngõa-bà-la và khải-lợi. Khố-lợi-tha du-dà đi trong thời đại hoàn toàn chính pháp, tức là thự-quang thời đại (thời kỳ rạng đông – 400 năm), bản-kỳ-thời-đại (4000 năm), hoàn hôn thời đại (400 năm) tổng cộng 4800 năm, lúc đó người thọ 4000 tuổi. Thoát-lợi-tha du-dà thời đại chỉ còn ba phần tư chính pháp, thêm thự-quang và hoàng hôn nữa thì kéo dài được  3600 năm; thời đại này người thọ 3000 tuổi. La-ngõa-bà-la-du-dà là thời kỳ chính pháp chỉ còn hai phần tư, kéo dài 2400 năm; người thọ 2000 tuổi. Sau hết đến khải-lợi-du-dà là thời kỳ chính pháp chỉ còn lại một phần tư, tức là chính pháp thời bấy giờ kéo dài 1200 năm; tuổi thọ của người vào thời kỳ này không nhất định. Cứ như thế khi thời kỳ khải-lợi-tha-du-dà và xoay vần như cũ (về niên số của du-dà, tham chiếu Wilsons Visnu Puràna Vol, pp. 50-54 Note). Ở đây chúng ta có thể liên tưởng đến bốn thời kỳ của Ân-tỳ-la-khố-lợi-tư (1-Duy-ái, 2-Tăng-sinh, 3-Duy-tăng, 4-Ái-tái-sinh).

Song, đến thời kỳ tuần hoàn nào thì thế giới băng hoại. Theo Ma-nô, cứ bốn du-dà của nhân gian, nghĩa là 12000 năm (tức 4800 + 3600 + 1200 = 12000 năm) là một du-dà của các thần. Một nghìn du-dà này, và cứ theo công thức trên, thêm lên một nghìn nữa là một ngày của Phạm Thiên. Một ngày ở đây chỉ kể ban ngày mà thôi. Lúc đó Phạm Thiên ngưng mọi hoạt động mà nghĩ đêm; ấy là kiếp diệt. Như vậy, chỉ trong một đêm, thế giới chìm trong cảnh tối tăm, và sau Phạm Thiên lại tiếp tục hoạt động: ấy là sự tái tạo thế giới (Deussen, Allgemeine Geschte der Philosophie I, 3, ss, 45-47).

Thuyết trên đây tuy do sự hoạt động một ngày một đêm ở nhân gian mà tưởng tượng ra, nhưng nếu đặt nó vào căn để của lý luận, thì tôi cho rằng nó muốn điều hòa giữa sự sáng tạo thế giới và luân hồi vô tận. Tại sao? Vì thuyết sáng tạo thế giới ngay từ thời đại Lê-câu-vệ-đà đã được quy định rồi, bỏ đi không thể được, nhưng nếu thế thì luân hồi vô tận không thể thành lập được, cho nên phải điều hòa nó để tỏ rằng không ngoài thuyết tuần hoàn. Nhưng, đứng về mặt sự thực mà nói thì thuyết này là do sáng kiến của các nhà tìm tòi nghiên cứu M-ha-ba-la-da, hay là sản phẩm của các học phái khác? Vấn đề này vì không thể phán định ngay được, nên cần phải có sự nghiên cứu tinh xác nữa. Tuy vậy, điều ta cần ghi nhận là, bất luận từ đâu đến, thuyết này dưới nhiều hình thái, từng đã chi phối toàn thể tư tưởng giới Ấn Độ.

Trên đây là khai-tịch-luận của pháp điển Ma-nô, còn khai-tịch-luận của Bá-lạp-na thì thề nào? Khai-tịch-luận của Bá-lạp-na tuy là đại đồng, tiểu dị, nhưng ở đây tôi cũng xin trình bày những điểm cương yếu, căn cứ theo khai-tịch-luận của Tỳ-nữu-noa.

Đấng Tự-Tồn dĩ nhiên là duy nhất, thế nhưng cũng lại triển khai ra ba loại yếu tố lớn là: thần ngã, tự tính và thời. Thần ngã là nguyên lý tinh thần; tự tính là nguyên lý vật chất; còn thời là nguyên lý kết hợp cả hai. Do thời kết hợp cả hai, nên đấn tự-tồn tự nhập vào trong, thì từ tự tính triển khai giác, ngả mạn, ngũ đại và mười một căn. Khi ngũ đại triển khai rồi lại kết hợp với nhau mà thành Phạm-noãn (trứng phạm = khí thế giới), đứng trên nước, nhờ có nước, lửa gió, không, ngả mạn, giác, tự tính mà đứng vững. Đấng tự-tồn tự hình thành Phạm Thiên, mà do đức lo mà tạo vạn vật, do đức mừng lấy Tỳ-nữu-noa mà bảo tồn, và cuối đức tối lấy Lỗ-la-lạp mà phá hoại, tức là kiếp diệt.

Ta có thể thuyết này tuy đại thể cũng tương tự như thuyết Ma-nô, hay Ma-ha-bà-da-đa, nhưng đã để lộ sắc phái tôn phái, vả lại muốn điều hòa mọi tư tưởng: có thể nói đây là điểm xuất sắc nhất ban (Allegegemeime Geschichte der Philosophie I, 3, SS.38-47; Hasting’s Encyelopacdia of Religion and Cosmology by Jacobbi; Wilson’s Visnu Puràna IV. 30).

5- DIÊM PHÙ ĐỀ CHÂU.

Thứ đến là hình thái của vũ trụ được thành lập như thế nào? Tức cũng là vấn đề thế giới hình tượng luận như thê nào?

Theo Bá-lạp-na thì trong không gian vô hạn này có vô hạn tổ chức vũ trụ. Gồm tất cả tổ chức này gọi chung là một Phạm noãn. Nghĩa là, phát sinh luận phạm noãn về phương diện hình thái luận, cũng có thể dùng một cách uyển chuyển. Song, điểm chủ yếu của Bá-lạp-na không phải luận cứu tất cả những tổ chức vũ trụ vô hạn mà lấy một tổ chức trong số đó, tức là hình thái vũ trụ trong đó chúng ta đang sống làm mục đích luận cứu. Lý do là tất cả vũ trụ, bất luận loại nào, đều là một tổ chức đồng nhất. Theo ý nghĩa ấy, ta có thể hiểu Phạm noãn là một vũ trụ.

Phạm noãn, như đã nói ở trên, được bao quanh bằng những vòng đai nước, lửa, gió, không, ngã mạn, đại (giác) và tự tính. Lớp dày của nó dần dần được tăng lên gấp mười. Xem đồ biểu bên cạnh.

Nghĩa là tự tính, giác, ngã mạn hỗn  hợp với Phạm, không, gió, lửa, nước và đất do Áo-nghĩa-thư phát triển, và gọi cái hình thái đồng thời tồn tại của tất cả yếu tố là vũ trụ quan.

Nhưng trung-khu-bộ từ bộ phận nào mà được thành lập? Thôn thường chia nó thành bà-lỗ, bá-ngõa-tư, tư-ngõa-lỗ, mã-cáp-lỗ, ca-na-tư, tha-ba-tư và tát-đỏa-dạ-ma gồm bảy tầng, tức là thế giới từ cõi đất này trở lên. Tựu trung, bá-lỗ, bá-ngõa-tư, tư-ngõa-lỗ, ở thời đại Phạm Thư đã được gọi là Thiên, Không, Địa tam giới; cho đến thái-cơ-lợi-da, a-nan-da-đà, rồi lại thêm mã-cáp-lỗ, ca-na-tư, Bá-lạp-na lại dùng hình thức này để nói rõ sự khu biêt về địa vi của chư thiên. Đối lại với bảy cõi trên cõi đất còn có bảy cõi dưới cõi đất. Đó là trụ xứ của Ba-tha-lạp là: A-tha-lạp, duy-tha-lạp, tư-tha-lạp, tha-lạp-tha-lạp, mã-cáp-tha-lạp, lạp-tát-tha-lạp và ba-tha-lạp. Nếurõ tất cả các cõi này một cách chi tiết thì rất phiền tạp, cho nên ở đây tôi chỉ đề cập đến những điểm trọng yếu mà thôi.

Cõi đất mà chúng ta ở đây dĩ nhiên là cõi Bá-Lỗ (Bá-Lỗ giới) và được thành lập từ bảy châu, bảy biển, và bất luận loại nào, đều là trạng thái vòng tròn. Xem đồ biểu trang 27.

Tựu trung, Diêm-phù-đề châu là trung tâm của bảy châu và được bao bọc bởi biển La-ngõa-nô-lạp (I avanodà). Châu này bao hàm toàn châu Ấn Độ thời bấy giờ. Vì Bà-la-môn-giáo cũng như Kỳ-na-giáo đều coi toàn Ấn Độ là trung tâm của thế giới. Điểm này có khác với Phật giáo, vì Phật giáo cho núi Tu Di là trung tâm, còn Diêm-phù-đề chỉ là một bốn châu và ở phía nam mà thôi. Đường trực kính của châu Diêm-phù-đề là mười vạn do tuần, chu vi ba mươi vạn do tuần (Phật giáo thì nói trực kính hai nghìn do tuần, và chu vi sáu nghìn do tuần - Lập-thê-A-tỳ-đàm-luận, quyển 2, Đại chính, 32, trang 179, hạ). Đông, tây chạy đều nhau và sơn mạch lại chia thành bảy nước. Đó là: 1) Ba-lạp-tha (núi Hi-ma-ngõa-đà), 2) Kim-bà-lỗ-sa (núi Hải-mã-khố-tha), 3) Cáp-lợi-ngõa-lỗ-sa (núi Ni-sa-lạp),4) Đông – Ba-độc-lập-tư-ngõa; Trung – y-lạp-ngõa-lỗ-tha (núi Nị-lạp); và, Tây - Khắc-tư-mã-lạp. 5) Nam-da-đà (núi Tư-duy-tha). 6) Hi-thương-mã-da (núi Tú-đốn-tạp-ngõa-tha), 7) Trung tâm địa của ưu-đa-la-khố-ô-bà-la-môn, lấy Bát-lạp-đà (ở phía bắc Kim-đề-lợi) làm trung tâm, xem đồ biểu trang 29:

Sự phân loại trên đây, một phần căn cứ vào sự thật, một phần do theo tưởng tượng mà thành toàn cõi Ấn Độ.

Giờ hãy nói về đặc sắc của các nước, Bá-lạp-đà là nước trong đó thiện ác hỗ tương giao tạ, để thích ứng với điều này, thọ mệnh hay quay quả báo cũng có sai biệt: đó là đặc sắc của nước này.

Thứ đến là nước Kim-bá-di-sa, nước này chạy dài giữa khoảng núi Hi-mã-ngõa-độc và núi Hải-mã-khố-tha. Người trong nước ăn trái (quả), Bá-lạp-khố-tha, không đau ốm, thọ một vạn tuổi. Con trai thì sắc vàng, con gái thì như a-bá-sa-lạp-tư. Căn cứ theo Bá-lạp-ngõa-tha-bá-lạ-na thì Tỳ-nữu-noa ở nước này, thủ hình lạp-mã và được Cáp-nô-mã-tha tôn kính.

Thứ ba là Cáp-lợi-ngõa-nhĩ-sa, ở giữa khoảng núi Hải-mã-khố-tha và Nị-sa-lạp. Dân cư trong nước này đều từ thần giới xuống. Sống bằng mía ngọt, và thọ một nghìn tuổi, không có bệnh tật và già yếu. Tỳ-nữu-noa ở đây và thủ hình Nô-lộ-tây mã. Và đây cũng là trụ xứ của quỷ thần như Lạp-na-ngõa hay Thái-đà-da, v.v…

Thứ tư là Y-lap-vũ-lợi-tha ở trung tâm châu Diêm-phù-đề; tức nam, bắc ở vào khoảng giữa núi Nị-xa-tha và núi Nị-lạp, đông, tây thì ở khoảng giữa Mã-nhĩ-ba-ngõa-tha và núi Á-tha-mã-lạp-na. Núi Mê-lư ở chính giữa, cao mười vạn do tuần (từ đất trở lên, 84000 do tuần, từ đất trở xuống, 16000 do tuần). Đường trực kính dưới chân núi là một vạn sáu nghìn do tuần, và trên đỉnh núi là ba vạn hai nghìn do tuần. Bốn châu Tu-di là bốn phương của nước Y-lạp-vũ-lợi-tha, thứ tự như sau: phương bắc có Ưu-đa-la-khố-nhĩ, phương nam có Ba-la-tha, phương có ba-đà-la tây-ngõa và phương tây có khải-tư-mã-lạp (nhưng trong Mbh. VI, 226, Padma P,III, 3,49 thì bảo phương nam là Diêm-phù-đề, điểm này tương hợp với Phật giáo – Kirfel; Die Kosmographie der Inder Sắc, thanh, hương, vị, xúc, 93). Chung quanh núi Tu-di có bốn ngọn núi, mỗi ngọn cao một vạn do tuần. Phía đông là Mạn-du-lạp, phía nam là Án-tha-mã-lạp-na, hay Mê-lư-mạn-đa-la, phía tây có Tỳ-bá-lạp, và phía bắc có Tư-ba-nhĩ-tư-ngõa. Trên đỉnh của bốn ngọn núi này có bốn cây đại thụ đại biểu cho mỗi núi, mỗi cây cao một nghìn một trăm do tuần. Tức ở phía đông là Khải-nam-lạp, phía nam là Khương-bá, phía tây là Tỳ-ba-la, phía bắc là Ngõa-tha; châu này gọi là Diêm-phù-đề là đặt theo tên cây của ngọn núi pjía nam (danh từ Khương-bá có rộng, hẹp khác nhau; tư tưởng thời kỳ đầu thì nói nó ở phía nam Tu-di, còn tư tưởng ở thời kỳ sau này thi nói toàn thể là Khương-bá. ở đây có thể đem so sánh với danh sưng của Đại-Hòa).

Chính giữa ngọn núi Tu di là thủ đô của Phạm Thiên rộng một vạn bốn nghìn do tuần; chung quanh thủ đô này có tám thần thủ hộ, và mỗi vị thần đó lại có thủ đô riêng. Tức là: phương đông có thần Nhân-đà-la, kinh đô là thành A-mã-lạp-ngõa-cơ; phương đông nam, thần A-cổ-nị, thành Đề-kiêu-ngõa-cơ; phương nam, thần Da-mã, thành Tham-da-mã-nị; phương tây nam, thần vũ-y-lộ-ba-khố-sa, thành Khố-lộ-tư-nam-a-na; phương tây, thần ngõa-lộ-na, thành Tú-lạp-ngõa-cơ; phương tây bắc, thần Tô-tha, thành Mã-yết-lạp-na; và phương đông bắc, thần y-sa-na, thành Da-tầu-ngõa-cơ. Tóm lại, nước Y-lạ-duy-lợi-tha là địa phương có núi lớn nhất trong châu Diêm-phù-đề, lấy Phạm Thiên làm trung tâm, và lấy chỗ ở của thần minh thủ hộ thế giới làm đặc sắc.

Lại ở phía đông và phía tây nước Y-lạp-duy-lợi-tha còn có nước Ba-la-lạp-tú-ngõa (đông) và nước Hải-tự-mã-lạp (tây). Đặc sắc của nước Ba-la-lạp-tú-ngõa ở chỗ dân cư tuy có nhiều giống, nhưng bất luận giống nào đều có đức hạnh tự nhiên, không biết có sự phân biệt pháp và phi pháp là gì. Người thọ một vạn tuổi, không có tai họa và luôn luôn tươi trẻ. Tỳ-nữu-noa ở đây và được tôn kính dưới hình tái mã-đầu. Còn nước Hải-tự-mã-lạp ở phía tây cũng có nhiều giống dân, con trai sắc đen, con gái thì sắc xanh nhạt. Người cũng thọ một vạn tuổi. Ở đây Tỳ-nữu-noa thủ hình thái Tạp Mã Thiên.

Thứ năm là nước lạp-mật-đa-khải, ở khoản ggiữa Ni lạp và núi Tú-vệ-đà. Dân cư giàu có sung  sướng, sống một vạn nghìn năm trăm năm. Tỳ-nữu-noa thủ hình Mã-tự-da.

Thứ sáulà nước Tỷ-man-mã-da ở khoảng giữa Tú-vệ-đà và núi Tú-lâm-lạp-ngõa-độc. Tại đây có sông tỷ-nam-ngõa-cơ, hoa sen đầy sông, dân chúng khỏe mạnh, giàu có; sống lâu một vạn hai nghìn năm trăm tuổi. Ở đây tỳ-nữu-nô cũng dùng hình Ma-lộ-mã để chi phối.

Thứ bảy là Ưu-đa-la-câu-tư, tức là Bắc-câu-lư-châu (Ái-lạp-ngõa-tha), ở phía bắc núi Tú-lam-tạp-ngõa-độc. Trong số bảy nước, nước này là tiên cảnh lớn nhất, có hai ngọn núi là Nguyệt-quang-huy và NHật-quang-huy, ở giữa là sông Ba-đá-lạp-tẩu-mã. Tất cả sông ngòi đều tràn đầy sữa và ms65t lai láng, gió thoảng hưong đưa, đất toàn bằng ngọc quý, các bụi cũng là vàng ròng. Đây là nơi tái sinh của những người rời bỏ thiên quốc, vợ chồng cùng sinh một lúc, cùng một tư thái, cùng một tính cách, và khi chết cũng cùng một lúc. Sống lâu 14500 tuổi. Trong thời gian đó hoàn toàn hạnh phúc, không có bệnh hoạn, không có tội ác, (có điểm tương tự như truyền của Phật giáo). Ở đây Tỳ-nữu-noa thủ hình Mã-tư-da (trở lên, theo Kirfel, Die Kosmographieder Jnder S. 5700).

Trên đây là một sự quan sát đại thể của châu Diêm-phù-đề. Nó là kết quả được tạo thành bởi sự khảo sát kỳ quái về địa lý trộn với thần thoại không tưởng: điều tưỡng không cần nói ai cũng biết.

6- SÁU CHÂU KHÁC.

Thứ bốn, tình của sáu châu kia như thế nào? Đến đây lại càng không tưởng nữa, vả lại cực kỳ phức tạp, cho nên có thể đề cập đến một cách nhất ban, chứ không thể đi sâu vào từng chi tiết được. Duy có điểm hơi thú vị là thuyết nói về cái biển Lạp-ngõa-nhu-lạp bao quanh châu Diêm-phù-đề này. Theo thuyết đó thì có nước biển Lạp-ngõa-nhu-lạp mặn và trong biển có rất nhiều đảo. Tựu trung, hòn đảo cách Ba-lạp-tha về phía nam 10000 do tuần là hòn đảo hiển trứ nhất. Tại đảo này có nhiều ngọc quý, dân cư sắc đen và rất sung sướng. Tôi cho rằng tưởng tượng của đảo Tích Lan, hoặc Qua-oa, Tô-môn-đáp-lạp hiện nay. Theo Bá-lạp-na thì Lan-tạp, tức đảo Tích Lan, là đảo phụ thuộc của châu Diêm-phù-đề, do đó, giữa Tích Lan thực tế và Tích Lan tưởng tượng, có thể nói không có sự khu biệt. Cũng trong biển này, về phía bắc của Bắc-câu-lư-châu có một đảo Khương-đà-đạp-ta-ngõa-ba (nguyệt châu) là nơi cư trụ của mặt trăng, vì là trên trời nên đặt tên như thế. Mặt trăng lấy đấy làm chỗ nghĩ ngơi. Nhưng, như sau đây sẽ nói, đứng trên lập trường thiên văn học mà khảo sát, thì mặt trăng so với thái dương vẫn cao hơn, cho nên lấy Nguyệt châu làm chỗ nghĩ ngơi của mặt trăng chẳng qua chỉ là bảo tồn một loại truyền thuyết mà thôi.

Lấy biển Lạp-ngõa-nhu-lạp này làm khởi điểm, nằm ở phía ngoài cùng là châu bá-tư-tạp-lạp-đà-duy-ba, ở phía ngoài biển khố-tây-la-lạp, và ở phía trong biển Tư-ngõa-lạp-tạp (nước ngọt). Trong châu này có núi Mã-na-tô-đà-lạp, cao năm vạn do tuần, quốc nội được chia thành hai phần. Dân cư đều bình đẳng, không có bốn giai cấp khác nhau (tất cả là Bà-la-môn); không có ưu, bi, khổ, não; Vệ-đà, luân lý, chính trị; tất cả đều không có. Người thọ một vạn tuổi. Có cây Ni-câu-lư-đà trên đó Phạm Thiên cư ngụ, một mặt được chư thần sùng bái, một mặt bảo hộ nhân dân. Lại có núi Na-mã-na-tô-lạp-đà là trụ xứ của bốn thần thủ hộ: phương đông là thần Nhân-đà-la (Đế Thích), kinh đô gọi là Ngõa-tư-ngõa-vũ-tạp-sa-lạp, hoặc là A-mã-lạp-ngõa-cơ; phương nam là thần Da-mã, kinh đô là Tham-da-mã-ni; phương tây là Ngõa-lỗ, kinh đô là Tư-tạp, hoặc là Ma-hạ; phương bắc là Tô-mã, kinh đô là Duy-lạp-ngõa-lợi.

Nước này là châu cuối cùng của vũ trụ. Biển Tư-thái-tư-lạp-tạp bao quan châu này và là chung kết của thế giới. Nhất là trong biển nước ngọt có đảo làm bằng hoàng kim, nhưng xa mặt trời mặt trăng quá, nên không có người ở.

Vũ trụ này là một hình tròn lớn, có năm ức do tuần đường trực kính, được bao bọc bởi bảy châu, bảy biển và lấy châu Diêm-phù-đề làm trung tâm đó là ý kiến của Bá-lạp-na.

7- KHÔNG GIỚI VÀ THIÊN GIỚI.

Trở lên mới là đại-quan về địa giới, nhưng còn không giới, tức là khí lưu giới thì thế nào? Theo Ngõa-lạp-ngõa-tha-bá-lạp-na thì địa phương từ Thái-dương trở xuống một nghìn do tuần là không giới, gồm Da-cổ-sa, Lạp-ma-sa, Tỳ-sa-khâu, Bá-lệ-tha, và Bá-tha. Nhưng trong Bá-lạ-na không nói rõ về cõi này, vì hình thái của nó không được rõ ràng lắm.

Điều mà các Bá-lạp-na nói rất rõ là Thiên giới, tức là ký sự Nhật, Nguyệt, Tinh thần, v.v… Theo Bá-lạp-na thì độ cao nhật, nguyệt, tinh thần không phải nhất luật; thấp nhất là thái dương, cao nhất là bắc cực, trong đó đại ước còn nói về nguyệt cầu, thất tinh và nhị-thập-bát-tú, v.v… Giờ xin biểu thị sự sai biệt về độ cao của nhật, nguyêt, tinh thần như sau:

Thái dương cách trái đất mười vạn do tuần; mặt trăng hai mươi vạn do tuần; Hằng tinh ba mươi vạn do tuần; Thủy tinh năm mươi vạn do tuần; Kim tinh bảy mươi vạn do tuần; Hỏa tinh chín mưoi vạn do tuần; Mộc tinh một trăm vạn do tuần; Thổ tinh một trăm ba mưoi vạn do tuần; Đại hùng tinh một trăm bốn mươi vạn do tuần; Bắc cực tinh một trăm mươi vạn do tuần.

Theo Bá-lạp-na thì trong những hiện tượng thiên thể này là nơi ở của các loài hữu tình, đặc biệt là các thần. chẳng hạn như nhật, nguyệt và hành tinh được chở trong xe do ngựa hoặc thần kéo: dĩ nhiên đây là sự quan sát cực ấu trĩ. Tuy nhiên,nếu giả định cho đây là môt loại thiên văn học cổ xưa để quan sát, và đứng trên lập trường văn minh sử mà nhận xét, thì những quan điểm trên đây đích thực là một thuyết minh rất nhiều thú vị.

8- NĂM VÀ GIỜ LẤY THÁI DƯƠNG LÀM TRUNG TÂM.

Trước hết hãy nói về thái dương. Như đã trình bày ở trên, thái dương là một viên thể có đường kính chín nghìn do tuần và cách cõi đất mười vạn do tuần. Nó gồm hai bánh xe, chiều dài một nghìn chín trăm bảy mươi vạn do tuần, ngắn bốn vạn năm nghìn năm trăm do tuần. Theo Bá-lạp-na thì trong bánh xe ấy có mười hai vị thần mặt trời là nguồn gốc phát ra ánh sáng (trong thái dương có mười hai vị nhật thần, mười hai vị Mâu-ni, mười hai vị tiên, mười hai Càn-thát-bà, mười hai A-bá-sa-lạp-tư, mười hai Ma-lạp-mã-ni, mười hai con rắn và mười hai La-sát).

Thái dương này lấy núi Tu-di làm trung tâm, từ phương đông xoay qua phương tây và đó là nguyên nhân của ngày, đêm. Tức lấy n1ui Tu-di là làm trung tâm thì thuận-tự sẽ là: giữa trưa ở châu phương nam là lúc trời mọc ở châu phương tây, nửa đêm ở châu phương bắc là lúc trời lặn ở châu phương đông. Về tên các châu tuy khác nhau, nhưng sự giải thích của Phật giáo về điểm này cũng tương đồng (Câu xá quyển 11).

Tại Ấn Độ, ngày đêm được chia thành ba mươi mâu-hô-lật-đa. Mỗi mâu-hô-lật-đa là 1440: 30 = 48 phút. Trong mỗi mâu-hô-lật-đa, thái dương đi được ba trăm mười vạn do tuần. (tính đến chu vi núi Mã-na-tư thì là chín nghìn bốn trăm năm mươi vạn do tuần).

Nhưng, về sự dài, ngắn của ngày, đêm và sự bất đồng vủa bốn mùa thì tính như thế nào? Theo Bá-lạp-na thì thái dương lấy núi Tu-di làm trung tâm, tuy xoay theo một đường tròn nhưng đường đó chưa hẳn đã là đồng nhất. Tất cả có 180 đường mà thứ tự của chúng so núi Tu-di thì cách xa. Lấy núi Tu-di là trung tâm, thái dương đi 180 vòng trên một đường hình tròn ốc. Khi đường này gần núi Tu-di nhất thì tại Ấn Độ, tức nước Ba-lạp-tha, gần thái đương nhất, và lúc đó là hạ chí, thời gian ban ngày là 18 mâu-hô-lật-đa, ban đêm có 12 mâu-hô-ật-đa. Từ đây, ban ngày so với núi Tu-di, thái dương vẫn xa đến chín mươi ngày thì ngày đêm vẫn bình phân, và lúc đó là ngày thu phân. Khi tiến đến đường thứ 180 thì thái dương cách xa nước Ba-lạp-na nhất, và lúc đó là đông chí, ngày có 12 mâu-hô-lật-đa và đêm cũng 12 mâu-hô-lật-đa. Thán đó là tháng Mã-ca, tương đương với tháng giêng, tháng hai. Cuộc hành trình này gọi là nam đạo. Đến ngày thứ 181 thì gọi là bắc đạo, tứ clà cuộc hành của thái dương dần dần xích lại gần núi Tu-di. Đến ngày thứ 270, hay khi trở lại đến ngày đêm bình phân là ngày xuân phân. Rồi đến ngày 360 mà lại trở lại đến hạ chí thì, đến đây đã hoàn thành một năm.

Do đó, ở đây vấn đề được đặt ra là: tháng dương, nếu trong khoảng nửa năm, mỗi ngày xoay một đường tròn bán kính khác nhau, do mùa, tiết mà ngày, đêm dài, ngắn khác nhau thì còn có lý, chứ đàng này thì thường nhất định là 30 mâu-hô-lật-đa, mà tại sao cũng cùng lấy núi Tu-di làm trung tâm tròn mà xoay vần? Và tại sao không những do đường bán kính mà ngày đêm có thể thành bình phân, mà còn do nơi mùa, tiết mà ngày đêm có dài ngắn khác nhau? Về vấn đề này, tác giả của Bá-lạp-na bảo rằng, để thích ứng với sự bất đồng của bán kính mà tốc độ của thái dương cũng có sự bất đồng; bởi thế, cũng là 30 mâu-hô-lật-đa, lấy đó làm một vòng, nhưng không có sự khu biệt vể thời gian. Có sự bất đồng vể ngày đêm là vì: khi thái dương đi vể nam (tức về phương diện xa dần) thì ban ngày đi nhanh, ban đêm đi chậm, nên đêm dài; trái lại, khi đi vể bắc, thì ban ngày đi chậm, ban đêm đi nhanh, cho nên dần dần trở nên dài. Nhưng về điểm này, đối với sự tự chuyển, công chuyển của địa cầu, cái trạng thái đường quỹ đạo của nó vẫn chưa được biết, vậy mà tưởng định ra giờ giấc thì đó chẳng qua sự giải thích bất đắc dĩ mà thôi, và, như thế, dĩ nhiên nó cũng là sự thuyết minh rất lỏng lẻo. Bởi thế, vì sự sai biệt vể mùa, tiết có lạnh ấm khác nhau, thay vì cho đó là do sự bất đồng về khoảng cách của thái dương thì Bá-lạp-na lại đứng về mặt thần thoại mà bảo rằng đó là do tính chất của các vị thần chi phối mặt trời mà có.

Sau đây, xin đồ biểu theo Khắc-lỗ-bái-lỗ, căn cứ vào Phạm thư và Ba-lạp-ngõa-tha-bá-lạp-na: 

Hiện nay

Tháng

Àditya

Nhiệt lượng

1-2 (tháng)

2-3

3-4

4-5

5-6

6-7

7-8

8-9

9-10

10-11

11-12

12-1

Màgha

Phàlguna

Caitra

Vaisàkha

Jyaistha

Àsàdha

Sravana

Prausthapada

Àsvayuja

Kàrtlika

Màrgasirsa

Pausa

Varuna

Pùsan

Amsu

Dhàtr

Indra

Savitr

Vivasvat

Bhaga

Parjanya

Tvastr

Mitra

Visnu

5000     Sirira (rất lạnh)

6000        "           "

 7000     Vasanta (xuân)

8000          "           "

 9000     Gnisma

10000        "

 11000     Varsa

10000         "

 9000     Sarad

8000         "

 7000     Hemanta

6000           "

 

9- MẶT TRĂNG VÀ CÁC VÌ SAO.

Thứ đến là mặt trăng à các vì sao chủ yếu: mặt trăng cách trái đất hai vạn do tuần, cao gấp đôi mặt trời; đường kính của mặt trăng là một vạn tám nghìn do tuần, cũng gấp đôi thái dương. Nhưng quỹ đạo đó ngắn nhất trong các thiên thể: chỉ có 28 ngày là một vòng.

Theo Bá-lạp-na thì sự tròn khuyết của mặt trăng là: bạch phân (tức là quá trình dần dần thành thể tròn), là lúc quá trình ánh thái dương uống nước cam lộ tù Tư-tú-na, ngày thứ 28 (ngày 15 ta) là ngày tròn đầy. Khi ấy có nhiểu thần (36.333 thần) đến uống nước cam lộ, đó là bắt đầu hắc phân, tại Ấn Độ lấy đó là đầu tháng. Vì các thần uống nước cam lộ nên mặt trăng dần dần khuyết đi, và cuối cùng chỉ còn lại một phần mười sáu (gọi là tạp-lạp) thì các thần đi hết. Lúc đó, tổ tiên mới đến để uống một phần còn lại, và đến 14 thì hoàn toàn uống hết. Đó tức là trăng mới. Lúc này, mặt trăng đi vào quỹ đạo mặt trời ở trong quang tuyến A-mã, do đó, ẩn trong nước một ngày một đêm. Tiếp sau, mầm cây sinh ra cánh, đi trong thái dương rồi lại uống cam lộ như trước, tức lại trở vể bạch phân.

Trong khoảng 28 ngày, khi mặt trăng đi vòng quanh một vòng, qua cái gọi là nhị-thập-bát-tú. Đây tức là các vị sao. Bắt đầu từ cuối thời đại Vệ-đà (như Atharva Veda XIX, 7, 1, Kàthaka Samnità XXXIX, 13. Taittirlyabrahmana I, 5, 1… tham chiếu Kirfel, Die Kosmographie der Inder S, 36), thuyết tinh tọa đã trường kỳ chi phối Ấn Độ, kể cả trang Phật giáo. Tinh tọa tức là tinh diệu, có 27 hay 28, do một hoặc nhiều tinh tọa hợp thành. Xin kể những tên như sau:

1-Mão, 2-Tất, 3-Tuy, 4-Sâm, 5-Tỉnh, 6-Quỷ, 7-Liễu, 8-Tinh, 9-Trương, 10-Dực, 11-Chẩn, 12-Dốc, 13-Cáng, 14-Thị, 15-Phòng, 16-Tâm, 17-Vĩ, 18-Kỳ, 19-Đẩu, 20-Ngưu, 21-Nữ, 22-Hư, 23-Ngụy, 23Thất, 25-Bích, 26-Khuê, 27-Lâu, 28-Vị.

10- THIÊN GIỚI (phần 2).

Trở lên mới chỉ là đại thể của Tư-ngõa-lỗ-đà-tạp. Từ đây trở lên nữa, còn thích ứng với công đức của người cư trụ mà chia thiên giới thành các cõi như: Mã-cáp-lỗ-đà-dà, Đa-ta-lỗ-dà-dà, Tha-ba-đà-dà, Sa-cơ-da-lỗ-đà, v.v… Tựu trung, Mã-cáp-đà-dà là trụ xứ của những người ở kiếp trụ. Dà-na-lỗ-đà-dà là chỗ của con Phạm Thiên, như Sa-nan-đà-na, v.v…Lại theo Tú-bá-lạp-na thì các nhà hiền triết của Số Luận như Ca-tỳ-la, A-tư-lợi, Nga-túc, Bang-ca-thi-dà, v.v… cũng ở cõi này. Đây đại khái có nghĩa là cõi tịnh độ của những người giải thoát ở. Tha-ba-đà-dà, theoLâu-ca-bá-lạp-na là Sa-la-cá-ba-ca-lạc-dà. Người ở cõi này thân dài tám nghìn vạn do tuần (48 koti), duy chỉ là những người Bà-la-môn đã được chân tri.

Còn điều nữa nên chú ý là: căn cứ theo phần chú thích kinh Du Dà của Da-Xá thì: 1-Nhĩ-lạc-ca, 2-An-đa-nhã-xá-lạc-ca, 3-Mã-đàm-đà-lạp-lạc-ca, 4-Bá-lạp-xá-ba-già-lạc-ca, 5-Dà-na-lộ-lạc-ca, 6-Tha-ba-lạc-ca, 7-Tác-già-lạc-ca, gọi là thất giới (bảy cõi). Lại theo phần chú thích Du-dà-tất-đát-đa-khương-đa-lợi-ca của Bá-da-na-cơ-lợi-tha thì vị thần ở cõi thứ tư Bá-lạp-xá-ba-dà-lạc-ca là A-di-đà-bá: đây là điểm rất đáng chú ý khi nghiên cứu thần thoại Di-Đà trong Phật giáo.

Lại nữa, thế-giới-quan trong phần chú thích kinh Du-Dà và thế-giới-quan Phật giáo có chỗ tương tự: đây cũng là điểm có giá trị về mặt nghiên cứu. Tức như trong Dà-na-lỗ-đà-ca lập Phạm-phụ-thiên, Phạm-chúng-thiên; rồi trongTa-ba-lạc-ca thì lập Quan-âm-thiên chính la điểm đó (tham chiếu Kirfel, Die Kosmographie der Inder ss. 142-143).

11- HẠ GIỚI.

Về thượng giới, đại thể đã được trình qua như trên, sau đây ta hãy đề cập đến hạ giới, tức nói về Ba-tha-lạp.

Như trên đã nói, Ba-tha-lạp (có nghĩa là rơi xuống) gồm có bảy tầng là: A-tha-lạp hay Tha-lạp, Duy-tha-lạp, Ni-tha-lạp, Tư-tha-lạp, Tha-lạp-tha-lạp, Lạp-tát-tha-lạp và Mã-cáp-tha-lạp. Mỗi tầng này lấy một nghìn do tuần ngoài vỏ cõi đất làm cảnh, tổng cộng là bảy vạn do tuần. Tất cả các tầng này đều là chỗ ở của A-tu-la, La-sát và rồng, v.v… Những đô thị trong đó có thể nói cũng trang nghiêm như ở Thiên quốc. Về địa vị, những cõi này tuy ở dưới nhân gian, nhưng về phương diện lực (sức) thì lại ở trên nhân gian, cho nên thế giới này được cấu tạo dưới mặt đất. Về sự khu biệt của mỗi tầng tuy không được rõ lắm, nhưng đại khái thì chẳng qua chỉ là đem phối hợp các quỹ thần thoại trong đó, bởi thế tôi tưởng sau đây nên nói sơ qua về mỗi tầng.

Tầng thứ nhất, có cung điện Nam-cơ, tức A-tu-la.

Tầng thứ hai, có cung điện của Cáp-đa-khố-lợi-ngõa.

Tầng thứ ba, có thành đô của Tư-lợi-hi-lạp-tư, Hi-hữu-mã-lạp, Khổn-tỳ-lạp,hay có cung điện của Tạp-ti-lạp, v.v…

Tầng thứ tư, có đô thành Tạp-lạp-nại-mễ.

Tầng thứ năm, có đô thành Đãi-kỷ-da, Vũ-la-ca-na.

Tầng thứ sáu, là chỗ ở Quãng-tài-tử-long-vương. 

Tầng thứ bảy, có đô thành Ba-lợi, A-tu-la và Độc Long ở.

12- ĐỊA NGỤC.

Sau hết là địa ngục. Địa ngục tuy tuy được bảo là ở dưới Ba-tha-lạp, nhưng lúc đầu nó được coi ngang với Ba-tha-lạp. Điều này cứ xem Kỳ-na-giáo thay Ba-tha-lạp mà lập bảy địa ngục thì đủ rõ.

Tư tưởng địa ngục tuy đã manh nha từ thời đại Lê-câu-vệ-đà nhưng vẫn chưa rõ ràng, đến A-thát-bà-vệ-đà và Phạm-thư nó mới được biểu hiện dần, và cuối cùng đến thời đại Phật giáo thì tư tưởng trở nên rất thịnh. Những ký tải của nó liên tục trải qua các niên đại và dần dần đã được phô bày một cách tinh tế. Trong các kinh điển Nguyên thủy của Phật giáo, hoặc Ma-ha-bà-la-đa thứ 12, cho đến Pháp-điển Ma-nô 4,88, cũng đều đã nói đến, nhất là đến Bá-lạp-na, có thể nói đến điểm viên thục. Về cách Trình bày, trên đại thể, tuy cộng thông, nhưng nếu đi vào rừng chi tiết, thì trong đó không khỏi sự sai biệt. Bởi thế, ở đây chỉ nói một cách đại yếu mà thôi.

Trước hết xin nói về số mục. Địa ngục có 28 loại, con số này tuy là thông lệ, nhưng trong Ma-nô-đạt-ma-xá-kinh, Vu-tuần-tư-ô-lợi-để, v.v… thì chỉ có 21. Tôi cho rằng con số 21 so với 28 vẫn còn là nguyên thủy.

Bây giờ căn cứ theo Ma-nô để liệt kê những tên như sau:

1-Tha-di-tự-lạp (Ám hắc), 2-An-lạp-tha-di-tư-lạp (Manh ám), 3-Ma-ha-lao-lạp-ngõa (Đại khiếu hoán), 4-Lao-lạp-ngõa (Khiếu hoán), 5-Nại-lạc-ca (nại-lạc-ca?), 6-Tạp-lạp-tư-đà-la (Hắc thắng), 7-Ma-ha-nại-lặc-ca (Đại-nại-lạc-ca), 8-Tam-địa-ngõa-na (Dẳng hoạt), 9-Ma-ha-vu-cơ (Đại-a-tỳ), 10-Tha-ba-na (Viêm nhiệt), 11-Tam-ba-la-tha-biên-na (Dẳng nhiệt), 12-Tam-cáp-tha (Chúng hội), 13-Tát-lạp-câu-lạp (?), 14-Khố-đặc-mã-lạp (ác xú), 15-Phụ-cơ-mộc-lợi-kỷ-tạp (Thiết đinh) 16-La-cáp-hương-khố (Phũ nhập), 17-Lợi-kỳ-xá (?), 18-Bản-tha-na (?), 19-Xá-lộ-mã-lợi (Lạt), 20-A-tư-ba-đà-la-ngõa-na (Kiếm-diệp-lâm), 21-La-cáp-lạp-la-tạp (?).

Con số 28 đại khái cũng có thể là do số 21 trên đây mà thêm lên, hoặc ũng có thể là chính con số 21 đã thiếu mất: điều này chưa đoán định được. Giờ hãy tạm căn cứ theo Bà-tạp-ngõa-tha-bá-lạ-na và Đề-vu-ba-tạp-ngõa-tha-bá-lạp-na để liệt kê những tên sau đây:

1-Ám-hắc-địa-ngục, 2-Đại-hắc-ám-địa-ngục, 3-Khiếu-hoán-địa-ngục, 4-Đại-khiếu-hoán-địa-ngục, 5-Bình-chử-địa-ngục, 6-Hắc-thằng-địa-ngục, 7-Đạo-diệp-lâm-địa-ngục, 8-Tư-khẩu-địa-ngục, 9-Ám-tỉnh-địa-ngục, 10-Thực-trùng-địa-ngục, 11-Hỏa-trứ-địa-ngục, 12-Thiết-quản-địa-ngục, 13-Kim-cương-thích-thương-địa-ngục, 14-Thỉ-niệu-cấu-địa-ngục, 15-Bất-khiết-trì-địa-ngục, 16-Tă-tức-địa-ngục, 17-Sát-thương-địa-ngục, 18-Thóa-ẩm-địa-ngục, 19-Ngục-khuyển-địa-ngục, 20-Vô-gián-địa-ngục, 21-Thiết-ẩm-địa-ngục, 22-Diêm-thủy-địa-ngục, 23-La-sát-quần-thực-địa-ngục, 24-Thương-tuy-địa-ngục, 25-Xỉ-thương-địa-ngục, 26-Huyệt-diệt-địa-ngục, 27-Phản-báo-địa-ngục, 28-Châm-khẩu-địa-ngục.

Địa ngục trong Du-dà-tất-đàm-đa-khương-đà-lợi-dà (trang 127) đã thoát thai từ con số trên. Giờ xin tạm vào căn cứ vào những địa ngục trên để tả sự khổ trong mỗi địa ngục.

1 - Ám-hắc địa-ngục là chỗ ở của những người chuyên nghề ăn trộm (trộm vợ người khác cũng thế). Nỗi khổ là đói khát, bị đánh đập bằng dao gậy, luôn luôn chết ngất đi.

2 - Đại-ám-hắc địa-ngục là nơi đi đến của những kẻ làm hại mạng sống của người khác để cuớp giật vợ con, tài sản của người ta. Kẻ ấy thường chịu đau khổ cũng như cây lớn bị mất gốc.

3 - Khiếu-hoán địa-ngục là chỗ đi đến của những người chỉ biết lợi mình, không đoái hoài gì của chúng sinh. Nỗi khổ là do rắn hành hạ.

4 - Đại-khiếu-hoán địa-ngục, so với địa ngục trên, trình độ còn kịch liệt hơn nữa.

5 - Bình-chử địa-ngục là nơi ở của những kẻ giết người hay thú vật. Nỗi khổ là bị chưng trong chõ dầu.

6 - Hắc-thằng địa-ngục là nơi đi của những người giết cha mẹ hay giết Bà-la-môn. Địa ngục này rộng một vạn do tuần, trên dưới đồng nóng đốt cháy. Tội nhân chịu khổ trải qua vô số kiếp.

7 - Đạo-diệp-lâm địa-ngục là chỗ của những người bỏ kinh Vệ đà để chạy theo những kẻ mê tín dị đoan.

8 - Trư-khẩu địa-ngục là chỗ ở của hàng vua chúa, đại thần đã xử tử hình những người vô tội. Nỗi khổ là do sứ giả của Diêm-ma là Tư-ca-lạp cắt đứt chân tay.

9 - Ám-tỉnh địa-ngục là nơi ở của những người làm tổn hại sinh vật của kẻ khác. Trong cái giếng tồi tăm này, tội nhân thường chịu khổ do sinh vật hành hạ.

10 - Thực-trùng địa-ngục là nơi đi đến của những người không tế lễ, không bá thì cho người khác. Nỗi khổ là bị ác trùng ăn thịt.

11 - Hỏa-chử địa-ngục là chỗ ở của những người ăn trộm vàng bạc của người ta. Nỗi kihổ là do ngục tốt đốt những cây đũa lửa xiên vào người.

12 - Thiết-quản địa-ngục là nơi đi đến của những kẻ gian dâm. Nỗi khổ là bị đánh bằng gậy sắt nung đỏ.

13 - Kim-cương-thích-thương địa-ngục chỗ ở của những kẻ giao tiếp với mọi loài sinh vật. Theo Bá-lạp-phu-mã-bá-lạp-na thì đây là chỗ ở của những người đàn bà hoang dâm.

14 - Thỉ-niệu-cấu địa-ngục là nơi ở của hàng quốc vương, đại thần dùng pháp luật đối với nững kẻ dị đoan. Bao quanh địa-ngục này là những cừ, rãnh đầy dẫy vật nhơ nhớp.

15 - Bât-thiết-trì địa-ngục là chỗ ở của những người thông dâm với đàn bà vô hạnh. Nỗi khổ là phải ăn những đồ nhơ bẩn trong ao nước tù hãm.

16 - Hàn-tức địa-ngục là nơi đi đến của những người Bà-la-môn hay người ngoài, vì săn bắn mà giết lầm sinh vật. Lính gác ngục dùng những người đó làm đích để bắn.

17 - Sát-thương địa-ngục là chỗ ở của những người giết động vật để tế lể bậy bạ. Nỗi khổ là ngục tốt cắt hết chân tay.

18 - Thóa-ẩm địa-ngục là nơi đi đến của những người Bà-la-môn bỗng vì dục tình mà cùng đàn bà đồng chủng tộc giao tiếp. Chịu khổ ở địa ngục tinh dịch.

19 - Ngục-khuyển địa-ngục là chỗ ở của những người giặc cướp, bóc lột người khác. Nỗi khổ là do 720 chó của sứ giả Diêm-ma cắn xé.

20 - Vô-gián địa-ngục là nơi của những kẻ giả dối, lừa gạt. Nỗi khổ là đứng trên một mỏn đá cao 100 do tuần mà lộn nhào xuống, và cứ thế tiếp tục không bao giờ ngừng.

21 - Thiết-ẩm địa-ngục là chỗ ở của những kẻ tu hành mà uống rượu say sưa. Nỗi khổ là ngục tốt bắt uống nước sắt nóng.

22 - Diêm-thủy-trì-địa-ngục là nơi mà những kẻ lúc sống chuyên khen mình chê người, đến lúc chết phải đọa vào đó.

23 - La-sát-quần-thực địa-ngục là chỗ ở của những người giết người để làm vật tế lễ, hoặc đàn bà ăn thịt của người bị giết là vật tế lễ. Nỗi khổ là bị La-sát ăn thịt. La-sát ăn thịt, uống máu họ và vừa ăn vừa nhảy.

24 - Thương-tuy địa-ngục là nơi đi đến của những người đem đày người khác ra hoang đảo trong khi họ không có tội. Nỗi khổ là do các loài chim dùng mỏ mổ căn.

25 - Xỉ-thương địa-ngục là chỗ của những người thịnh nộ bắt ép người theo mình. Sau khi chết bị con rắn lớn dùng răn mà cắn xé. 

26 - Huyệt-duyệt địa-ngục là nơi đi của những kẻ khi còn sống bắt người nhốt trong hang động u ám. Khi chết bị giam vào hang núi, núi biến thành lửa.

27 - Phản-báo địa-ngục là nơi đi đến của những nhà tỏ vẻ khinh ghét khách nhân. Bị ác điểu moi mắt.

28 - Châm-khẩu-địa-ngục là nơi đi đến của những kẻ khi còn sống, vì tham dục, duy chỉ chý ý đến của báu. Nỗi khổ là bị ngục tốt dùng kim đâm vào chân tay.

13- THẾ GIỚI DIÊM MA.

Trở lên đã giải thích một cách đại khái về các tên của địa-ngục. Trong các Bá-lạp-na, ngoài những con số trên đây, còn có nhiều số mục và tổ hợp nữa. Nhưng ở đây không đủ thì giờ trình bày một cách tỉ mỉ, mong độc giả đọc thêm Die Kosmographie der Inder sa, 147-137 của Kitfel sẽ rõ. Tuy nhiên, ở đây không thể không nói qua những điểm này: Tức là, người tống giam vong hồn kẻ chết vào địa-ngục ấy cứu kính là ai?

Vấn đề này, nếu đứng trên lập trường tự nghiệp, tự đắc mà nói, thì cái gọi là địa ngục chẳng qua chỉ là "tự nghiệp sở cảm", nhưng Bá-lạp-na lại cho đó là sự tồn tại vật lý nên cần phải có người hướng đạo. Người lãnh công việc đó là Diêm ma. Thành này rộng mười vạn do tuần, bốn góc cao một vạn do tuần, và tường thành đúc bằng vàng. Nhưng đó thành của Diêm-ma không phải chỉ là nơi đi đến của những ác nhân, mà cả thiện nhân cũng được đưa đến đây, sau khi chết. Nhưng lối vào của những người này có khác nhau. Nghĩa là cửa đông được trang trí bằng tràng phan, dải đá quý, ngâm vịnh Kiện-đạt-phược, A-bá-tát-lạp-tư để đón rước: đó là lối vào của các thần, tiên, người tu Du-Dà và các thánh nhân. Cử bắc được trang hoàng tràng hoa, ngọc trai, có tiêu, địch và đọc tụng Vệ Đà: đó là lối vào của những người có đức hạnh, có làm phúc, có lòng chân thật và hiếu kính cha mẹ. Cửa tây, so với cửa bắc kém hơn một chút, nhưng vẫn có trang hoàng và âm nhạc: đó là lối vào của những người lễ bái Thấp-bà, hành hương thánh tích và thờ phụng hỏa thần. Cử nam là đường vào của những kẻ làm ác, vừa bước đến cửa đã nghe tiếng kêu gọi, đã thấy các loài ác thú, ác trùng trông rất đáng sợ đang đi đi bại lại. Linh hồn kẻ ác phải đi qua cửa đó để đến chỗ Diêm-ma. Lấy Diêm-ma là ông quan tòa rất đáng sợ. Ngồi cạnh Diêm-ma là viên thư ký tên là Cơ-đà-la-cô-bá-tha, tuyên độc tội trạng của tội nhân ở Sa-bà, diêm-ma theo đó mà xét xử thích đáng, và cuối cùng, tùy theo tội trạng nặng nhẹ mà truyền lệnh tống giam vào những địa-ngục như đã kể ở trên trong một hời kỳ nhất định cho xứng đáng với tội trạng. Trong Bá-lạp-phu-mã-bá-lạp-na còn nói rõ địa ngục có lớn nhỏ và thời gian dài ngắn, v.v…nhưng ở đây tôi không đề cập đến.

Tại Diêm-ma còn có phương diện chủ Thiên-quốc, đây là điểm ta cần lưu ý (tham khảo thêm Kirfel, Die Kosmagrphie der Inder sa, 163-4).  

-ooOoo-

 

CHƯƠNG III
THẾ GIỚI QUAN PHẬT GIÁO

Tiết thứ nhất
KHÍ-THẾ-GIAN

1- LỜI TỰA.

Như đã thường được trình bày ở trên, Phật giáo cũng chia thế giới này thành ba cõi: điều đó không khác với Bà-la-môn-giáo. Nhưng đặc sắc của Phật giáo là, trong khi Ba-la-môn-giáo cho thiên, Không địa là ba cõi và coi như vật lý, thì Phật giáo để thích ứng với cảnh giới tinh thần của chúng ta, suy cứu từ thứ tự tu Thiền-định, mà gọi ba cõi là Dục-giới, Sắc-giới và Vô-sắc-giới. Dục-giới là nơi lòng dục thịnh; Sắc-giới là nơi dục tuy không thịnh nhưng vẫn chưa hoàn toàn thoát ly được trói buộc vật chất, chỉ còn lại cái đương thể thuần tinh thần độc lập, chính là cái nấc thang tu dưỡng tinh thần của chúng ta. Đây cũng giống như trong ý hành kinh thuộc Trung-A-Hàm, quyển 43 (Đại chính, 1, trang 400, trung) lấy Sinh-địa làm ba cõi vậy. Cứ xem thế thì đủ rõ. Bởi thế, trong Phật giáo, đến A-tỳ-đạt-ma để thích ứng với thế-giới-quan vật lý thần thoại của đương thời, đến một trình độ nào đó, tuy có tu chỉnh ba cõi thành hình thái tồn tại vật lý, nhưng đến khi kết quả thì vẫn muốn theo lập trường luân lý duy tâm luận mà giả thích hết thảy. Giữa thế-giới-quan và Bà-la-môn-giáo và thế-giới-quan Phật giáo có điểm bất đồng rất lớn. Tức là, Bà-la-môn-giáo cho sự bắt đầu cũng như sự chung kết của thế giới là do sự thức giấc hay ngủ nghỉ của thần, còn Phật giáo thì cho rằng thế giới phải tùy thuộc vào những quan hệ nhân duyên, không thừa nhận nó có ý chí tồn tại tuyệt đối; đến như quan hệ chung kết thì tùy thuộc ở nghiệp lực của các loài hữu tình: thế giới thành hay hoại, tất cả đều thuộc ý chí của chúng ta. Đây là điều chúng ta phải ghi nhận trước nhất, nếu chúng ta muốn hiểu thế-giới-quan Phật giáo. Điểm này đối với thế-giới-quan Bà-la-môn-giáo vốn đặt nặng về Khởi-nguyên-luận. Theo ý nghĩa này, chiếu theo văn tự, ta có thể nói trong thế-giới-quan Phật giáo không có đề mục Khởi-nguyên-luận.

Nhưng, nay nếu đứng trên lập trường của A-tỳ-đạt-ma mà nhìn ba cõi về phương diện vật lý thì như thế nào? Trong ba cõi thì vô-sắc-giới vì đã hoàn toàn ly khai mọi quan hệ vật chất nên được đặt ra ngoài vấn đề thế-giới-hiện-tượng-luận, mà chỉ còn lại hai cõi Dục giới và Sắc giới. nhưng cái gọi là Sắc giới, mặc dầu về phương diện vật lý, tuy vẫn chưa thoát hẳn sự trói buộc của vật chất, song, đến đây, thật ra do xứ sở mà bị trói buộc, chứ về phương diện cảnh giới thì vẫn có điểm thù thắng. Ở đây, luận cứu đề mục khí thế gian tức là luận về dục giới.

Dục-giới lấy núi Tu-di làm trung tâm, trở xuống, từ địa-ngục, trở lên, đến 33 tầng trời; lại lấy núi Thiết-vi làm vòng ngoài, lấy núi Tu-di làm trung tâm, tức là cửu sơn, bát hải, tứ châu, nhật, nguyệt, v.v… Song, có điều nên chú ý là, theo Phật giáo, không những chỉ thế giới này, mà tất cả thế là vô tận. Trong Bà-la-môn-giáo, đối với thế giới này, đã nói có vô số, nhất là trong Phật giáo thì nói tiểu thiên thế giới, trung thiên thế giới và đại thiên thế giới, v.v… rồi đến thời kỳ phát đạt nhất của A-tỳ-đạt-ma thì lấy đại thiên thế giới làm một vũ trụ. Tiểu thiên thế giới gồm một nghìn nhật nguyệt, Tu-di và tứ châu, v.v… đã nói ở trên (gọi là Sàhasra-cùdika loka-dhàtu); một trung thiên thế giới lại gồm một nghìn tiểu thiên thế giới; và một đại thiên thế giới gồm một nghìn trung thiên thế giới (tức là 1000 X 1000 = 1000.000 tiểu thiên thế giới). Như vậy, một vũ trụ gồm có một triệu cái tiểu thiên thế giới, và sự thành hay hoại của các thế giới đó có thể nói là giống nhau (Câu xá quyển 11). Thế giới tuy nhiều như thế, nhưng vì giống nhau nên, trên đại thể, nếu hiểu được thế giới tức có thể hiểu toàn bộ thế giới.

2- PHONG LUÂN, THỦY LUÂN, KIM LUÂN.

Từ căn để, vòng gió, vòng nước và vòng vàng trên đây dựa vào hư không (tức không gian). Từ trên không gian sinh ra vòng gió. Theo luận Câu xá, gốc của vòng này có 16 lạc-xoa (Tàu dịch là ức, tương đương với 100.000) do-tuần; còn theo Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 1, thì có 19 ức sáu vạn do-tuần. Theo Tụng-Sớ, mỗi do-tuần là 16 dậm. Chiều rộng của nó thì từ Khởi-thế-kinh cho đến Câu xá luận đều thông lệ cho là vô biên, nhưng duy có Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận lại bảo đường kính của nó là hai vạn ba nghìn bốn trăm năm mươi do-tuần.

Trên vòng gió lại sinh ra vòng nước. Theo Câu xá luận chiều sâu là tám ức do-tuần, chiều rộng là mười hai ức ba nghìn bốn trăm năm mươi do-tuần; còn Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận thì bảo chiều dài là bốn ức tám vạn do-tuần, và chiều rộng cũng giống với Câu xá. đại-lâu-thán-kinh thì nói sâu bốn trăm sáu mươi vạn do-tuần; Khởi-thế-kinh lại bảo sâu sáu mươi vạn do-tuần; còn Thế-kỷ-kinh thì nói ba nghìn ba mươi do-tuần, và rộng thì vô biên.

Trên vòng nước lại có vòng vàng: rộng cũng như vòng nước, còn dày, theo Câu xá, là ba ức hai vạn ức do-tuần (những sự so sánh tường tận đó thấy trong Câu xá luận pháp nghĩa, quyển 11, và câu Câu xá luận quyển 11). Tóm lại, đến vòng vàng này là sự thành lập của địa cầu, và tất cả các hiện tượng trên địa cầu là những hình thái trên vòng vàng.

3- CỬU SƠN, BÁT-HẢI LẤY NÚI TU-DI LÀM TRUNG TÂM.

Nếu đứng về phương diện ngang mà quan sát thì thế giới nhỏ này lấy núi Tu-di làm trung tâm mà có chín núi, tám biển. Tức trong Bá-lạp-na gọi là bảy biển, bảy châu. Trong Phật giáo thì gọi là chín núi, tám biển. Mà trung tâm của chín núi tám biển là núi Tu-di. Theo Câu xá luận, Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận và Đệ-duy-da-ngõa-tha-na thì các núi và biển bao quanh núi Tu-di theo thuận tự như sau:

Tô-mê-lư-sơn                                (Diệu cao)
Du-kiện-đạt-la-sơn                        (Trì-song)
Y-sa-đà-la-sơn                              (Trì-tục)
Khư-địa-lạc-ca-sơn                       (Diêm mộc)
Tô-đạt-la-đà-na-sơn                      (Thiện-kiến)
Ngạch-thấp-phược-yết-noa-sơn   (Mã-nhĩ)
Tỳ-na-đát-ca-sơn                          (Tượng nhĩ)
Ni-dân-đạt-la-sơn                         (Tr
ì-sơn hay tên cá)
Thiết-luân-vi-sơn.

Theo Lân-ký thì những tên này do theo hình mà đặt (Tụng-sớ quyển 11). Theo Khắc-lỗ-ngải-lỗ thì bảy núi từ Trì-song đến Trì-sơn là quan hệ với bảy sao Nhật, Nguyệt, Nộc, Hỏa, Thổ, Kim và Thủy.

Nhưng thuận tự trên đây chưa hẳn nhất trí trong các truyền thuyết. Theo kinh Bản-sinh, tương đương với bảy núi trên là: 1-Yugandhara, 2-Isadhara, 3-Nemindhara, 4-Assakanna, 5-Karavika, 6-Yugandhara, 7-Vinataka. Ngoài ra, trong Á-tha-na-lợinạt, Đại-sự, Lâu-thán-kinh, và Khởi-thế-kinh, v.v… thuận đó cũng có nhiều chỗ không giống nhau, đó là điểm cần ghi nhận (Câu xá quyển 11). Tóm lại, dù sao thì thuận tự đó đều có. Những núi đó lấy Tu-di làm trung tâm, rồi thuận theo thứ tự, cách biển (hải luân), mà bao vây ở vòng ngoài tức là Luân-sơn.

Song, vị trí của những núi đó như thế nào? Theo Câu xá quyển 11 thì tất cả đều đứng trên Kim-luận (vòng vàng) và đều bám sâu xuống nước tám vạn do-tuần, nhưng độ cao ở trên mặt nước thì không nhất định. Núi Tu-di ở trên nước tám vạn do-tuần, nhưng núi Trì-song chỉ có bốn vạn, rồi đến núi thứ ba là Trì-Trục chì chỉ có hai vạn do-tuần, dần dần cứ giảm đi một nửa cho đến cuối cùng là núi Thiết-Vi thì chỉ nhô lên khởi mặt nước có ba trăm mười hai do-tuần rưỡi mà tôi. Còn về chiều rộng của các núi đó thì cũng bằng độ cao của chúng (Câu xá quyển 11), cho nên thuận theo độ cao, chiều rộng cũng giảm bớt đi dần dần. Tức thế giới này lấy núi Tu-di làm trung tâm mà thành hình thái như đồ biểu sau đây:

(cũng có thuyết theo thứ tự giảm nửa độ cao của các núi từ dưới nước - Lập-thế-a-tỳ-đàm luận quyển 2, Đại chính, 32, trang 182, thượng).

Thứ dến tám biển. Trong tám biển này, theo Câu xá thì bảy biển trước là nội hải, nước ngọt, còn biển kia, tức nội-hải ccủa Thiết-vi-sơn, thì gọi là ngoại hải, toàn nước mặn. Về chiều rộng thì Câu xá nói: "khoảng giữa các núi có tám biển, bảy biển trước gọi là nội hải. Biền thứ nhất rộng tám vạn do-tuần, bốn bên đều gấp ba. Sáu biển kia chỉ rộng bằng nửa. Còn biển thứ tám gọi là ngoại hải, rộng ba lạc-xoa (ức) hai vạn hai nghìn du-thiện-na (do-tuần).

Căn cứ theo lời giải thích trên đây thì từ ngoại diện núi Tu-Di đến ội diện Trì-Song, đường kính là tám vạn do-tuần, bốn góc của núi Trì-Song cũng như của núi Tu-Di, nội diện mỗi bên là 24 vạn do-tuần, tổng cộng chu vi là 96 vạn (tức Ấn Độ kể là chín ức sáu vạn) do-tuần.

Ngoài ra, các núi kia vì cứ giảm đi một nửa bề rộng cho nên, từ ngoại diện của núi Trì-Song đến nội diện của núi Trì-Trục đường kính chỉ bốn vạn do-tuần. Từ đây trở xuống có thể tính theo phương pháp đó. Biển cuối cùng, tức ở khoảng núi Trì-Sơn đến núi Thiết-Vi thì đường kính là ba mươi hai vạn hai nghìn (tức ba ức hai vạn hai nghìn) do-tuần. Mà núi Thiết-Vi, vì là thể tròn, cho nên toàn chiều dài của nó, tính từ trung tâm núi Tu-Di, đến đây cách xa gấp đôi.

Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận bảo chu vi của núi Thiết-Vi là 16 ức, một vạn, ba trăm năm mươi do-tuần (Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 2, Đại chính, 32, trang 181). Về điểm này, giữa Lập-thế-a-tỳ-đàm và Câu xá có chỗ hơi bất đồng. Câu xá cho độ sâu của các biển cũng đồng với chiểu rộng – Câu xá quyển 11 nói: “Chín núi đứng trên Kim-Luân và đều ăn sâu dưới nước tám vạn do-tuần - Lập-thế-a-tỳ-đàm thì cho núi Tu-Di đến núi Thiết-Vi thì chiều sâu cũng như bể dày còn có 312 do-tuần rưỡi.

Trên đây chỉ là sự giải thích đại khái vể cõi đại địa này mà thôi. Nhưng, trong, cái vị trí của thế giới ta hiện ở đây như thế nào?

Trong ngoại hải, tức phía trong núi Thiết-Vi và phía ngoài núi Trì-Song, có bốn châu. Trong số đó, châu Diêm-phù-đề ở phía nam, hình giống như cái xe, bắc rộng, nam hẹp, ba cạnh đều dài hai nghìn do-tuần, còn cạnh phía nam chỉ có ba do-tuần rưỡi.

 Đây chính là thế-giới-quan mở rộn địa hình Ấn Độ, mà cũng là thế giới chúng ta đang ở (Bà-la-môn-giáo cho rằng châu Diêm-phù-đề là trung tâm của thế giới, trong đó có núi Tu-Di, ở phía nam núi Tu-Di là Ba-la-đa, tức Ấn Độ). Phía đông hải ngoại là châu Đông-thắng-thần (Pùrvavideva), hình thể như hình bán nguyệt. Câu xá nói, cạnh phía đông có 350 do-tuần, nhưng vì ba cạnh kia, mỗi cạnh đều 2.000 do-tuần, cho nên hình thể của nó như đồ biểu sau đây:

Tư tưởng Diêm-phù-đề-châu chủ yếu đã phát xuất từ nơi có địa hình bán đảo, và đó chính là đã phát xuất từ Đông-phương-duy-tải-cáp, nhưng, dĩ nhiên hình thái không giống với thế giới của ta.

Về phía bắc ngoại hải là châu Bắc-câu-lư, Bà-la-môn-giáo cũng nhận châu này ở phía bắc núi Tu-Di và là một nước lý tưởng. Hình châu này vuông và bốn cạnh đều có 2000 do-tuần, cho nên, trên đại thể, chu vi của nó gồm có 8000 do-tuần. Sau hết, về phía tây là châu Tây-ngưu-hóa. Hình châu này tròn, và đường trực kính 2500 do-tuần, nên, trên đại thể, chu biên có 7500 do-tuần.

Về khoảng cách giữa các châu này, Theo Lập-thế-a-tỳ-đàm thì từ trung ương châu Diêm-phù-đề đến trung ương châu Tây-ngưu-hóa là ba ức sáu vạn nghìn do-tuần; lại từ đầu bắc châu Diêm-phù đến đầu bắc châu Bắc-câu-lư có bốn ức vạn bảy nghìn năm trăm do-tuần (Lập-thế-a-tỳ-đàm luận, quyển 2, Đại chính, 32, trang  181, hạ).

Tóm lại, bốn châu này là chỗ ở của người đời, trong đó trạng thái sinh hoạt và tuổi thọ tuy có khác, nhưng bất luận châu nào, đứng về phương diện người mà nói, thì đều đồng nhất. Điểm thú vị đặc biệt là nhiều hình trạng khác nhau, tức diện mạo của người ở mỗi châu cũng tương tự như địa hình của châu ấy. Nghĩa là, người châu Diêm-phù-đề thì mặt trên rộng, dưới hẹp, người châu Tây-ngưu-hóa thì mặt tròn, người châu Bắc-câu-lư thì mặt vuông, người châu Đông-thắng-thần mặt hình bán nguyệt.

Ngoài ra, mỗi châu đều nhận có các đảo phụ thuộc, điểm này trong thế-giới-quan Bà-la-môn-giáo cũng có. Theo Phật giáo bốn châu đều có hai châu phụ. Tức hai châu phụ thuộc Diêm-phù-đề là Da-mạt-la-châu và Phiệt-la-da-mạt-la-châu, chính là tư tưởng đã từ phương diện đảo Tích-lôn ngày nay mà phát đạt. Hai châu phụ của Đông-thắng là Đề-ha-châu và Tỳ-ha-châu; của Bắc-câu-lư là Đoản-lạp-dà và Kiều-lạp-bà; của Tây-ngưu-hóa là Xá-hước vá Uất-đát-la-mạn-đát-lý-noa. Tám châu này tuy nói là chỗ ở của người, nhưng cũng có thuyết cho rằng Da-mạt-la-châu, hay Phiệt-da-mạt-la-châu là chỗ ở của quỹ La-Sát. Cái gọi là quỉ-đảo đại khái có nghĩa là Tích-Lan.

4- NÚI TU-DI.

Thứ đến, cái trạng thái của núi Tu-Di như thế nào? Như đã nói ở trên, núi Tu-Di cao tám vạn do-tuần, bốn gốc trên ngọn núi, bề mặt mỗi cạnh đều có ít nhất tám vạn do-tuần. Nửa phần dưới, tức từ mặt nước đến điểm bốn vạn do-tuần, tầng thứ hai, tám nghìn do-tuần, tầng thứ ba, bốn nghìn do-tuần và tầng thứ tư, hai nghìn do-tuần. Xem đồ đồ biểu trang 61:

Nhưng những nơi đó là chỗ ở của quỷ thần. Tầng thứ nhất là chỗ ở của thần Dạ-Xoa tên là Kiên-Thủ; tầng thừ hai là của Trì-phát; tầng thứ ba là của Hằng Kiêu (xưa là Hằng Túy); tất cả đều là thần Dạ-Xoa, họ hàng của Tứ-thiên-vương. Tầng thứ tư là nơi của Tứ-thiên-vương, Đông phương là Trì-quốc-thiên-vương; Nam phương do Tăng-trưởng-thiên-vưong ở; Tây phương do Quảng-mục thiên vương; Bắc phương do Tỳ-sa-môn thiên vương (đa- văn-thiên); bốn vị thiên vương này bảo hộ toàn thế giới (nhưng khởi-thế-nhân-bản kinh quyển 6 (Đại chính, 1, trang 91, trung); Du già-sư địa luận quyển 2 (Đại chính, 32, trang 287, trung) đều nói bốn vị Thiên vương này ở trên đỉnh núi Trì Song).

Trên đỉnh núi Tu-di là trời 33 (Đao-lợi-thiên) chiều rộng, theo Câu xá (quyển 11) đưa ra hai thuyết một cho rằng mỗi cạnh rộng tám vạn do-tuần, một cho mỗi cạnh rộng hai vạn do-tuần. Tam thập tam thiên là thoát xuất từ thời đại Vệ Đà gọi chư thần là Tam-điệp-thập-nhất-thiên, cùng với cái mà Nhật-Bản gọi là "Tám trăm vạn thần, v.v…tương đồng, nó biểu thị một ý nghĩa tập đoàn, với số mục 33 này không có quan hệ gì đặc biệt cả. Chủ của cõi này là trời Đế-Thích, thường được xưng là Sá-khắc-lạp-đức-duy-ma-mỗ-nhân-đà-la. Bắt đầu là kinh Khởi-thế (9 quyển 20, phẩm-đao-lợi-thiên). Rồi đến các kinh luận khác, đều hết sức tán thán cõi Đao-lợi này, bởi thế chúng ta hãy nhìn qua cảnh giới đó xem sao. Bốn gốc trên đỉnh núi Tu-di có ngọn núi cao 500 do-tuần là chỗ ở của Kim-cương-thủ, là người canh phòng núi Tu-di. Giữa đất bằng có đô thành gọi là Thiện-Kiến (Diệu-kiến hoặc là Hỷ-kiến), bốn bên đều có 2500 do-tuần. Chu vi có Kim-thành dài một do-tuần rưỡi. Đất mềm mại như dải nhung tơ. Trong một thành này lại có điện Tỳ-Xà-duyên rất thù thắng, là nơi ở của Đế Thích. Bốn phía ngoài thành có bốn khu vườn: phía đông là vườn Chúng-xa; phía nam có vườn Thô-ác (vườn ác-khẩu); phía tây là vườn Tạp-lâm; phía bắc là vườn Hỷ-lâm (Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 3, ngoài bốn vườn kể trên, có ghi vườn Ba-lợi-dạ-đa. Còn giải thích tên Thô-ác, bảo rằng vì có ao và cây nên vườn này có tên là Thô-ác. Lại nữa, vì chư Thiên khi vào vườn này tranh giành nhau đi sau đi trước mà sinh ghét nhau, do đó mới có tên là Ác-khẩu – Đại chính, 32, trang 187, thượng). Tất cả vườn đó đều là những nơi du ngọn chư thiên của Đao-lợi. Ngoài bốn vườn đó, về phía đông bắc ngoại thành còn có Ba-lợi-xà-đa, tức là khu vườn Viên-sinh-thụ. Trong đó có cây Viên-sinh cao 100 do-tuần, cành tỏa ra bốn phía thành một cái tàn lớn che rợp 50 do-tuần. Dưới bóng tàn đó, chư thiên tha hồ ăn uống và ca múa (về Đao-lợi-thiên là bốn vườn, có thể tham chiếu Trường-A-Hàm, quyể 20, phẩm Đao-lơi-thiên; Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 2 và 3; và Câu xá quyển 11).

5- NHẬT-NGUYỆT LỊCH SỐ.

Nhật nguyệt lịch số của Phật giáo so với nhật nguyệt lịch số của Bá-lạp-na, có thể nói, rất có ý nghĩa khoa học. Nhật nguyệt của số Bá-lạp-na thấy ở sự thực, nên rất thẳng mực, mà cách tuyết minh lại quá thần thoại; nhật nguyệt lịch số của Phật giáo tuy cũng giả định, nhưng lại kết hợp với sự thực để tìm cầu, nên phương pháp thuyết minh rất khít khao.

Những văn hiến nói về sự vận hành của mặt trời, mặt trăng trong Phật giáo có rất nhiều, nhưng theo chỗ tôi biết thì văn kiện nói tường tận nhất về điểm này là Nhật-nguyệt-hành-phẩm trong Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 5 (Đại chính, 32, trang 165, thượng). Bởi thế, sau đây tôi tưởng chỉ nên căn cứ theo đó mà nói một cách đại yếu về điểm này.

Theo-lập-thế-a-tỳ-đàm thì độ cao mặt trời mặt trăng bằng nhau, ở điểm bốn vạn do-tuần của núi Tu-di, tức cũng cao bằng núi Trì-song (Bá-lạp-na cho mặt trời cao mười vạn do-tuần , mặt trăng hai mươi vạn do-tuần); lơ lửng giữa không trung, không rơi mà cũng không bao giờ xoay vần, sở dĩ như thế là nhờ ở sức gió nâng đỡ. (Theo Thế-kỷ-kinh, Thế-bản-duyên-phẩm trong Trường-A-Hàm thì có năm ngọn gió nâng đỡ và làm cho mặt mặt trăng vận hành, đó là trì-phong, dưỡng-phong, thu-phong, chuyển-phong và điều-phong. Đại chính, 1, trang 145, hạ). (Lại Trong KhởiThế-kinh, quyển 10 (Đại chính, 1, trang 360, hạ) nói là trì phong, trụ phong, thuận phong, nhiếp phong và hành phong). Về hình thể thì mặt trời là một viên thể, đường kính 51 do-tuần, mặt trăng có đường kính 50 do-tuần (nếu so với châu Diêm-phù thì mặt trời và mặt trăng nhỏ hơn biết bao! Vì ba cạnh của châu Diêm-phù mỗi cạnh có 2000 do-tuần). Phật giáo cũng nhận trong mặt trời và mặt trăng có cung điện, điểm này có thể nói cũng đồng nhất với cách khảo sát với Bà-la-môn-giáo. Song, những yếu tố cấu tạo thành bộ phận dưới của chúng thì, theo Phật giáo, mặt trăng là pha-lê, được phủ bởi lớp bạch ngân và nước chiếm phần lớn; còn mặt trời tuy cũng là pha-lê nhưng được phủ xích-kim và lửa chiếm đại bộ phận. Trong Bà-la-môn-giáo không có sự thuyết minh này.

Song, sự cận hành của mặt trời mặt trăng như thế nào? Chúng đều lấy núi Tu-di làm trung tâm, lấy bốn châu làm giới hạn mà cùng xoay vần trong quỹ đạo. Do sự vận hành ấy mà có ngày đêm. Mặt trời xoay từ đông sang tây; nửa đêm ở bắc châu là lúc mặt trời lặn ở đông châu; giữa trưa ở nam châu là lúc mặt trời mọc là ở tây châu. Điểm này cũng tương đồng với Bà-la-môn-giáo. Còn về sự dài ngắn của ngày đêm thì: Bá-lạp-na cho quỹ đạo mặt trời, mặt trăng là 180 đường tròn hình ốc; trong Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận thì đại thể chia nó thành ngoại lộ và nội lộ, và khoảng cách giữa hai đường này là 290 do-tuần. Tựu trung, ngoại lộ trước hết ở hai châu Nam-diêm-phù-đề và Bắc-câu-lư, từ điểm cực nam (các châu thường lấy mặt hướng về núi Tu-di làm phương bắc) của hai châu này, ở điểm 60 do-tuần định một điểm, rồi lại ở hai châu Đông-thắng-thần và Tây-ngưu-hóa, từ cực nam, định điểm tại khu vực một phần ba của 393 do-tuần, chiếu theo bốn điểm đó mà họa một hình tròn và lấy nó làm ngoại lộ. Như vậy, đường kính của ngoại lộ sẽ là bốn ức tám vạn một nghìn ba trăm tám mươi do-tuần, chu vi là mười bốn ức bốn vạn bốn nghìn một trăm bốn mươi do-tuần. Còn nội lộ, từ bốn điểm 290 do-tuần, là một đường suốt phương bắc, tức là điểm ở hai châu Nam-phù-đề và Bắc-câu-lư, cách cực nam 350 do-tuần; ở hai châu Đông-thắng-thần và Tây-ngưu-hóa là điểm ở vào một phần ba của 683 do-tuần, đường trực kính là bốn ức tám vạn tám trăm do tuần, chu vi mười bốn ức bốn vạn hai nghìn bốn trăm do-tuần. Mặt trời mặt trăng vận hành trong khoàng hai con đường này, và vì sự bất đồng của 290 do-tuần nân nhật nguyệt lịch số có tướng trạng khác nhau.

Do đó, lấy thuyết quỹ đạo trên đây làm nền tảng để trước hết nói về sự vận hành của mặt trời, lấy một năm làm 365 ngày (5 năm nhuận một tháng), thì quỹ đạo của mặt trời sẽ có 180 loại khác nhau. Đó tức là sự bất đồng giữa khoảng từ ngoại lộ vào nội lộ và từ nội lộ vào ngoại lộ vậy. Đương nhiên, mặt trời (cả mặt trăng cũng thế) quyết không chỉ vận hành riêng ở ngoại lộ hay nội lộ mà tất phải vận hành cả ở ngoại lẫn nội lộ, và chính vì đó mà thành 180 loại. Trong số này, có bốn loại có thể được coi là tiêu chuẩn cơ bản. Thứ nhất, tại ngoại lộ Diêm-phù và nội lộ Bắc-câu là một đường quán thông trung lộ của hai châu Đông và Tây, ngày đông chí (xưa là ngày 9 tháng 11?) của châu này (Diêm phù) tứ clà đường đó. Thứ hai, khi mặt rời vận hành tại trung lộ của châu này và Bắc châu vận hành ở ngoại lộ của Tây châu và ở nội lộ Đông châu, ngày thu phân ở châu này tương đương với ngày đó. Thứ ba, là đường kết hợp ngoại lộ của Bắc châu với nội lộ của Nam châu và trung lộ của hai châu Đông, Tây, khi mặt trời đi theo quỹ đạo đó là tiết hạ chí của châu này. Thư tư, là đường kết hợp trung lộ của hai châu Nam, Bắc với ngoại lộ Đông châu và nội lộ Tây châu, thì ngày đó tương đương với ngày xuân phân của châu này. Như vậy, bốn quỹ đạo này là tiêu chuẩn và sự kết hợp giao thoa giữa chúng thành ra 180 đường.

Nếu căn cứ theo Lập-thế-à-tỳ-đàm-luận thì một ngày mặt trời đi đại khái là: 

Đi thẳng 1444140 + 1412400 : 360 = 4009        do-tuần 
                             2                               12

Đi chếch  290 = 1 11 
                180       18  do-tuần (từ nội lộ đến ngoại lộ, hay từ ngoại lộ đến nội). Đồ biểu trang 67:

Lý do tại sao ngày đêm có dài ngắn khác nhau là hoàn toàn ở đấy. Khi mặt trời qua lại trong nội lộ các châu thì rất dài, khi qua lại trong trung lộ thì bình phân. Cách thuyết minh này của Phật giáo cũng đồng với Bà-la-môn-giáo. Một ngày một đêm là 30 mâu-hô-lật-đa hoặc mâu-hưu-đa; ngày hoặc đêm dài nhất là 18 mâu-hô-lật-đa, ngắn nhất là 12 mâu-hô-lật-đa. Điểm này cũng giống với Bà-la-môn-giáo. Nếu theo Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận thì: sự bất đồng của một ngày là: 1/30 mâu-hô-lật-đa = 1 la-bà hay lạp-phược. Tức là hạ-chí, mỗi ngày thời gian giảm đi một lạp-phược; từ đông chí tăng lên một lạp-phược. Song, ở đây vấn đề được đặt ra là: ngày đông chí, hạ chí và ngày bình phân tương đương với ngày nào? Vấn đề này, trên thực tế, do vĩ-đô mà có hơi sai khác. Về điểm này, Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 5, đưa hai thuyết khác nhau.

Thuyết thứ nhất là:

Ngày 15 tháng 5 - Hạ chí
Ngày 15 tháng 8 – Bình phân
Ngày 15 tháng 11 – Đông chí
Ng
ày 15 tháng 2 – Bình phân

Thuyết thứ hai là:

Ngày 9 tháng 6 - Hạ chí
Ngày 9 tháng 9 – Bình phân
Ngày 9 tháng 11 – Đông chí
Ng
ày 9 tháng  3 – Bình phân

Lại trong luận Bà sa, quyển 130 thì nói:

Ngày 8 tháng Ma-dà (9-12) – đông chí
Ng
ày 8 tháng Thất-la-phiệt-noa (9-6) - Hạ chí

Câu xá luận thì nói:

Từ vũ-tế tháng thứ hai, ngày 9, đêm dần dần tăng từ hàn-tế tháng thứ tư, ngày 9, đêm dần dần giảm.

Song, Vũ-tế tháng thứ hai, và hàn-tế tháng thứ tư địch thực chỉ tháng nào thì điều đó vẫn chưa được rõ. Quang-ký đưa ra nhiều thuyết.

Thái Sở thì nói:

Ngày 9 tháng 8 (Vũ-tế tháng thứ 2) – Thu bình phân
Ngày 9 tháng 2 (Vũ-tế tháng thứ 4) – Xuân bình phân.

Quang-Ký thì nói:

Ngày 9 tháng 5 (Vũ-tế tháng thứ 2) - Hạ chí.
Ngày 9 tháng 11 (Vũ-tế tháng thứ 4) – đông chí.

Diểm này, như Tụng-Sớ nói: cái gọi là đêm tăng lên, có sự giải thích bất đồng là bình phân tăng và sau hạ chí. Song, nếu cho như thế mà giải thích sự bất đồng đó bằng vũ-tế và hàn-tế thì có điểm không ổn thỏa. Nhưng, nếu lại tiến thêm một bước nữa mà khảo sát thì, cái gọi là vũ-tế, hàn-tế, hoặc là ngày đêm dài ngắn khác nhau, thật ra là do sự bất đồng của vĩ-độ, cho nên dù cho chỉ ở một nước Ấn Độ cũng khó mà có sự nhất định rồi, huống chi còn liên hệ nó với cả Trung Quốc vá Nhật Bản. Nếu ta muốn đạt đến một quy luật nhất định, thì dĩ nhiên, điều đó cực kỳ khó khăn.

Nếu tính theo ngày nay, thì thời gian mà trái đất xoay quanh mặt trời được một vòng là 365 ngày, 5 giờ, 48 phút, 46 giây, do đó, nếu cho một năm là 365 ngày thì cứ cách bốn năm phải có một ngày nhuận. Đàng này, Ấn Độ lại dùng âm lịch, vì một năm chỉ 360 ngày, còn lại 5, ¼ ngày nữa, cho nên cần phải có một tháng nhuận. Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận ty cho năm năm nhuận một tháng, nhưng không định rõ số ngày của nó như thế nào. Vì không rõ về lịch số nên kết quả là không thể luận cứu về vấn đề này một cách tường tận. Đây là một điều rất đáng tiếc!

Trên đây, đại khái là đường vận hành của mặt trời. Sau đây sẽ nói qua về mặt trăng. Mặt trăng thì cũng hệt như mặt trời, nghĩa là, cũng vận hành giữa khoảng hai con đường nội và ngoại, nhưng khi đi qua 15 đường thì lại trở về đứng ở quỹ đạo cũ. Đại khái trong 30 ngày thì đi hết toàn thể quỹ đạo của nó, tức là từ ngoại lộ vào nội lộ hết 15 ngày, và từ nội lộ trở lại ngoại lộ hết 15 ngày. Theo ý nghĩa này, khi mặt trăng đi chếch thì nhanh hơn mặt trời, nghĩa là, trong một ngày đi được 19 1/3 do-tuần. nhưng khi đi thẳng thì tốc độ mặt trăng đi chậm hơn mặt trời, đại khái một ngày mặt trời nhanh hơn mặt trăng 48.080 do-tuần, do đó có hợp hay ly. Khi hợp thì ánh sáng mặt trời bao phủ mặt trăng trong một ngày là 3: 1/3 do-tuần, dần dần đến ngày 15 thì toàn bộ bị bao phủ, ánh sáng mặt trăng không hiện mới thành ra "hắc phân". Khi ly thì dần dần một ngày hiện ra 3: 1/3 do-tuần, cứ như thế cho đến ngày 15 thì hoàn toàn không bị mặt trời che nữa, và lúc ấy là trăng tròn (bạch phân): đó là lý do tại sao trăng có khuyết, có tròn vậy. Dĩ nhiên, nếu nói theo quan niệm ngày nay thì điều đó không chính xác, nhưng nếu so với Bá-lạp-na bảo do sự đầy vơi của cam lộ mà trăng có tròn, khuyết, thì cách thuyết minh trên đây của Phật giáo có thể nói rất khoa học (Câu xá quyển 11 nói: “Các sư xưa giải thích là: do độ đi vòng của mặt trời, mặt trăng có khác nhau, nên mới hiện có tròn, khuyết". Tụng-Sớ chú thích các sư xưa là các sư của Kinh-Bộ. Nếu vậy, có thể nói, những điều đượcc thuyết minh trong Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận hợp với Kinh Bộ).

 

Tiết thứ hai.
ĐỊA-NGỤC.

1- VĂN-HIẾN.

Sau đây, chúng ta hãy bàn qua về tư tưởng địa-ngục của Phật giáo.

Từ thời đại Phật giáo Nguyên thủy, tư tưởng địa-ngục đã được thu dụng trong Phật giáo rồi.  Song, lúc đầu nó mới chỉ là luân lý luận thông tục chứ chưa đạt đến yếu tố thế-giới-quan. Về số mục hoặc vị trí của địa-ngục thì mãi đến A-tỳ-đạt-ma luận thư sau này hầu như cũng chưa có xác định (A. I. p.141, M.3p, 166, S. I. p. 151. Tạp-A-Hàm, quyển 47, Tăng-Nhất-A-Hàm, quyển 36, Trung-A-Hàm, quyển 1, Thiên-Sứ-Kinh). Tuy nhiên, nói một cách đại thể thì lúc đầu các thuyết minh về địa-ngục đều rời rạc, vả lại có tính cách thí dụ nhiều hơn, và có rất nhiều điểm liên hệ với tư tưởng địa-ngục của Bà-la-môn-giáo (chẳng hạn như số 7 được nhận là số mục địa ngục). Trải qua các niên đại, đồng thời với sự phát huy những đặc sắc của Phật giáo, tư tưởng địa-ngục cũng lần lượt được chỉnh lý, để rồi đã chiếm một địa vị rất lớn trong thế giới và hữu tình quan.

Dưới đây chúng tôi xin kể qua những tài liệu nghiên cứu về tư tưởng địa-ngục: Tăng-Nhất-Bộ và Trung-Bộ văn Ba-li là những tư tưởng thời đầu đã dần dần đầy đủ. Từ đó tiến lên bước nữa thì có phần chú kinh Bản-Sinh, Đại-Sự, Trường-A-Hàm, quyển 19, phẩm địa-ngục, cuối cùng có Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận, quyển 8, phẩm địa-ngục, Thế-gian-Thiết-luận, Câu xá luận, Thế-gian phẩm (quyển 11), cho đến Du-dà-sư-địa-luận là thuyết minh chung cục về địa-ngục.

2- VỊ-TRÍ.

Trước hết hãy nói vể vị trí của địa-ngục. Trên văn hiến, lúc đầu khảo sát về địa-ngục như một nơi tận cùng của thế giới. Trong Trường-A-Hàm, phẩm Địa-ngục nói: “Nơi tận cùng của thế giới này tựa vào một biển nước lớn, lại có hai ngọn núi Kim-Cương, nơi giữa khoảng hai ngọn núi này, ánh sáng mặt trời, mặt trăng không chiếu rọi đến được, và đó là địa-ngục (Đại chính, 1, trang 121, hạ). Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 1 thì bảo địa-ngục thì ở ngoài núi Thiết-vi (Đại chính, 32, trang 173, trung). Song, đến Câu xá luận thì cho rằng nếu bảo nơi tận cùng thế giới là địa-ngục thì quyết không thích hợp, nên cho địa-ngục là ở dưới mặt đất, và lấy địa điểm phía dưới châu Diêm-phù hai vạn do-tuần (dưới đáy bốn vạn do-tuần từ bề mặt trở xuống) làm địa-ngục A-tỳ (vô gián địa-ngục), lấy đó làm cơ-để, trở lên còn có bảy tầng địa ngục (Du-dà-sư-địa-luận, quyển 4, nói, từ đây trở xuống ba vạn hai nghìn do-tuần có Đẳng-hoạt-na-lạc-ca (Đại chính, 30, trang 294) song có thể nói là tám địa-ngục, mỗi địa-ngục cách nhau một nghìn do-tuần).

3- SỐ VÀ LOẠI.

Thứ đến, là số và loại địa-ngục. Như đã nói ở trên, Trung Bộ liệt kê bảy địa-ngục; Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận kể có mười hàn, tám nhiệt và mười sáu tăng (Đại chính, 32, trang 173, 207, thượng, 215, thượng); Trường-A-Hàm, quyển 19, cũng kể mười hàn, tám nhiệt và sáu tăng. Nhưng đến Câu xá luận thì lấy tám hàn, tám nhiệt và mười sáu địa-ngục nhỏ phụ thuộc làm chủ thể của địa-ngục. Địa-ngục-quan của Phật giáo, cuối cùng, đã được định ở đây. Bởi vậy, chúng ta hãy căn cứ theo đó để liệt kê những tên gọi như sau:

Trước hết bắt đầu từ tám nhiệt. Tám nhiệt là: 1-Đẳng-hoạt (xưa là Cánh hoạt), 2-Hắc-thằng, 3-Chúng-hợp (xưa là Chúng-hạp), 4-Hiệu-khiếu (xưa là Khiếu-hoán), 5-Đại-hiệu-khiếu, 6-Viêm-nhiệt (xưa là Thiêu), 7-Cực-nhiệt (xưa là Đại-Thiêu), 8-Vô-gián. Trong số này, bất luận loại nào, đều là chỗ đến của những kẻ tạo nghiệp cực ác, và đều phải chịu khổ bị thiêu đốt. Cũng vì thế mà có tên là Nhiệt-địa-ngục. Tựu trung, những kẻ bị đoạ vào địa-ngục Đẳng-hoạt, tuy bị ngục tốt - về thân phận của ngục tốt, giữa các A-tỳ-đạt-ma luận sư có sự tranh luận, Đại-chúng-bộ và Chính-lượng-bộ cho ngục tốt là hữu tình; Hữu Bộ và Kinh-lượng-bộ thì bảo không phải hữu tình, mà là một biến hình lớn do ác nghiệp chiêu cảm. Đại thừa cũng thế (Duy-thức-nhị-thập-luận-thuật-ký, quyển thượng, Đại chính, 43, trang 987, thượng). Nếu theo K. V. XX. 33, thì Án-đạt-la-phái cũng cùng một ý kiến - chặt đứt từng đoạn đặt tên sắt nóng, nhưng nhờ gió mát mà lại sống lại để tiếp tục chịu khổ, do đó mà có tên là Đẳng-hoạt-địa-ngục. Hắc-thằng có nghĩa là sợi dây đen. Như người thợ mộc dùng sợi dây đen trong tàu-mực đánh dấu trên khúc cây để cưa xẻ, ở đây tội nhân cũng vậy: ngục tốt dùng dây sắt nóng đặt lên thân thể tội nhân để đánh dấu và cứ theo dấu ấy mà cưa xẻ tội nhân, do đó mà có tên là Hắc-thằng. Còn Chúng-hợp-địa-ngục là ngục tốt đuổi tội nhân vào giữa hai quả núi, phía trước phía sau đều có lửa cháy, trong khi đó hai quả núi hợp lại mà ép tội nhân, do đó mới có tên là Chúng-hợp. Ngoài ra Viêm-nhiệt, Đại-viêm-nhiệt, Khiếu-hiệu, Đại-khiếu-hiệu, v.v… đều do chịu khổ lửa đốt mà diễn tả cái trạng thái kêu gào, than khóc của tội nhân. Sau hết là địa-ngục vô-gián. Trong bảy địa-ngục kia, có khi tội nhân còn được nghĩ ngơi đôi chút, khỏi chịu khổ, chứ tại địa-ngục này thì một chút do dự cũng không được, bởi thế mới có tên là Vô-gián. (Những luận sau đây nói rõ về tám địa-ngục lớn này: Du-dà-sư-địa-luận, quyển 4 (Đại chính, 30, trang 295, hạ - 297, thượng); Thi-Thiết-túc-luận. Thi-Thiết-luận nói: “Tạo nghiệp sát sinh, kẻ nặng nhất đọa vào Vô-gián-địa-ngục; nặng vừa đọa Đại-viêm-nhiệt-địa-ngục; vừa nữ, đọa Viêm-nhiệt-địa-ngục; vừa nữa, đọa Đại-khiếu-địa-ngục; vừa nữa, đọa Hiệu-khiếu-địa-ngục; vừa nữa, đọa chúng-hợp-địa-ngục; vừa nữa, đọa Hắc-thằng-địa-ngục; vừa nữa, đọa Đẳng-hoạt-địa-ngục; vừa nữa, đọa Bàng-sinh-thú,và nhẹ nhất thì đọa ngả-quỷ-lớn”; Bà sa quyển 47 (Đại chính, 27, trang 243, thượng); và Nghiên-cứu-A-tỳ-đạt-ma-luân, trang 137).

Về bề rộng của tâm địa-ngục lớn trên đây, theo Câu xá, mỗi địa-ngục là hai vạn do-tuần, nhưng ngoài những địa-ngục chính ra còn có sáu địa-ngục phụ mệnh danh là Tăng. Trong Phật giáo, vì một lý do nào đó, tuy lấy tám địa-ngục lớn làm chủ vị, nhưng do kết quả của một hình thái muốn gia tăng nào đó, nên cũng lập ra những địa-ngục phụ thuộc. Bởi thế con số mười sáu Tăng chưa hẳn đã được quyết định từ lúc đâu. Trung-Bộ (M.III.p.166) nói tại địa-ngục thứ bảy có nhiều địa-ngục phụ; kinh Thế-Khởi trong Trường-a-Hàm (Trường-A-Hàm, quyển 19, phẩm địa-ngục, Đại chính, 1, trang 121, hạ) nói như sau: 1-Hắc-sa, 2-Phí-niệu, 3-Ngũ-bách-đình, 4-Cơ, 5-Khát, 6-Nhất-đồng-phủ, 7-Đa-đồng-phủ, 8-Thạch-na, 9-Nùng-huyết, 10-Lượng-hỏa, 11-Khói-trà, 12-Thiết-hoàn, 13-Xích-phủ, 14-Sài-lang, 15-Kiếm-thụ, 16-Hàn-băng. Điều không may là vì không có nguyên điển của kinh Thế-Khởi, nên không thể nói rõ nguyên ngữ của từng địa-ngục trên đây. Nhưng điều đại khái không còn hồ nghi là sự thành lập như trên đã thoát thai từ Bá-lạp-na. Song, Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 8 (Đại chính, 32, trang 211, hạ), hay luận Câu xá quyển 11, nói rằng tại bốn cửa của tám địa-ngục lớn đều có bốn tăng,cộng tất cả là mười sáu, như vậy đều khác với số mười sáu của Trường-A-Hàm. Tức là bốn phương đều có bốn loại: 1-Đường-ổi-tăng (xưa gọi là Nhiệt-khôi-viên), 2-Thì-phẩn-tăng (gọi là Tử-thi-viên). Trong Thi-phẩn này có con trùng kêu là nương-củ-tra (xưa gọi là phương-cưu-đa), 3-Phong-nhận-tăng (trong đó lại chia thành 3 loại: 1 Đao-nhận-lộ, 2 Kiếm-diệp-lâm, 3 Thiết-thích-lâm), 4-Liệt-hà-tăng. Nếu chia nhỏ ra nữa thành bảy loại, tức là thêm ba loại ở số 3 vào. Tất cả địa-ngục này đều khoảng vài trăm do-tuần. Tội nhân khi từ địa-ngục chính ra rồi lại phải vào đây để chịu khổ, bởi thế mới có tên là Tăng (thêm). Đây là sự giải thích của luận Câu xá.

Trên đây, tất cả đều là Nhiệt-địa-ngục, đối lại với Nhiệt địa-ngục còn có Hàn-địa-ngục. Trường-A-Hàm, quyển 19, phẩm địa-ngục (Đại chính, 1, trang 125, hạ), Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 1 (Đại chính, 22, trang 137, hạ) liệt kê mười loại. Tăng-Nhất-Bộ, Tạp-Bộ thì kể có chín loại. Câu xá luận thì lại có tám loại.

Mười loại của Trường-A-Hàm bản dịch là: 1-Hậu—vân, 2-Vô-vân, 3-Ha-ha, 4-Nại-há, 5-Dương-minh, 6-Tu-càn-đề, 7-Ưu-bát-la, 8-Câu-vật-đầu, 9-Phân-đà-lợi, 10-Bát-đầu-ma.

Mười loại của Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận là: 1-At-phù-đà, 2-Niết-phù-đà, 3-A-ba-ba, 4-A-tra-tra, 5-Ưu-hống-hồng, 6-Uất-ba-lũ, 7-Càn-vật-đầu, 8-Tô-kiện-đà-cố, 9-Phân-đà-lợi-cố, 10-Ba-đầu-ma.

Còn tám loại của Câu xá là bỏ số 7, 8 trên đây còn lại tám.

Những tên gọi trên đây là căn cứ theo trạng thái cực lạnh của thân thể, hoặc tiếng khổ mà đặt (trong Phát-hợp-tư-ba-tạo-ảnh-sơ-trí-luận, quyển thượng (Đại chính, 32, trang 229, thượng) và Du-dà-sư-địa luận quyển 4, có nói rõ về tám Hàn). Về vị trí của những địa-ngục này, Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 1, bảo là ở ngoài núi Thiết Vi, nhưng Câu xá luận quyển 11 lại nói ở phía ngoài tám địa-ngục nhiệt kể trên. Mà hình thể châu Nam-Diêm-phù-đề, bề mặt tuy không rộng, nhưng phía dưới trở xuống thì rất rất rộng, cho nên có thể bao hàm rất nhiều địa-ngục ở dưới.

4- DIÊM MA ĐỊA NGỤC.

Trở lên, có bát nhiệt, bát hàn và mười sáu tăng, tất cả là 8 + 8 (8 x 16). Đây là con số chủ yếu trong địa ngục quan Phật giáo, nhưng Trường-A-Hàm quyển 19. Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 8, còn đặc biệt nói đến Diêm-Ma địa-ngục nữa.

Vua Diêm-Ma, lúc tối sơ là người chết, mà điểm v5 là theo Trường-A-Hàm, vua từ ở trong cung điện tráng lệ đó mà hưởng các thú vui, nhưng cứ mỗi ngày ba lần, ngồi trên sắt nóng lấy nước đồng sôi rót vào miệng mà chịu khổ (Trường-A-Hàm quyển 19, Đại chính, trang 126,trung). Theo chỗ tôi biết, Bà-la-môn-giáo không nói Diêm Ma tự thân chịu khổ, nhưng Phật giáo thì cho thân phận Diêm Ma cũng chỉ là một loài quỷ. Song, Diêm Ma có nhiệm vụ răn dạy các tội nhân mà ông ta xét xử: điều này trong Trường-A-Hàm cũng có nói. Nhưng đến Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận thì nói sự thụ khổ của Diêm Ma không phải nhiệm vụ của tài phán quan tận lực. Phương pháp tài phán của Diêm Ma rất có tính cách luân lý giáo huấn. Đó là đặc sắc của Diêm Ma.

Quan Phật giáo, sứ giả của Diêm Ma có ba hoặc năm người. Ba là lão, bệnh-tử; năm là sinh, lão, bệnh, tử và hình vụ sở. Diêm Ma thường sai sứ tăng gia cảnh giới nhân loại, nhưng vì nhân loại không thèm để ý, nên không chịu làm việc thiện, mà, trái lại, chỉ chăm lo tạo ác nghiệp, cho nên cuối cùng không tránh khỏi những nỗi khổ ở địa-ngục. Đó là lời răn dạy của Diêm Ma đối với người mới chết. Như Lập-thế-a-tỳ-đàm-luận quyển 8, nói: "nghiệp tà ác của ngươi, do nơi tự làm tự chịu, chẳng phải trời làm, cũng chẳng phải cha mẹ làm cho, chẳng phải quốc vương làm, mà là do người tự làm tự chịu, tuy không mong muốn, nhưng quả báo quyết định sẽ đến. Lại trong Trung-A-Hàm, quyển 12, Thiên Sứ Kinh (Đại chính, 1, trang 504, trung) nói: “Ác nghiệp này của người chẳng phải cha mẹ làm, chẳng phải vua, chẳng sa môn, phàm chí làm, mà chính ngươi tạo nghiệp bất thiện, nên nay ngươi tất sẽ phải chịu báo". Đó là những lời Diêm Ma thường tuyên bố. Theo ý nghĩa ấy, Diêm Ma tuy đã mất cái ý nghĩa tài phán quan, nhưng trong truyền thuyết này. Còn về chỗ ở của Diêm Ma, theo Trường-A-Hàm thì tại núi Đại-Kim-Cương ở phía nam châu Diêm-phù; nhưng Câu xá luận lại bảo ở dưới đất năm trăm do-tuần, là chỗ thuộc loài quỷ (Câu xá, quyển 11).

5- CÔ ĐỊA NGỤC.

Ngoài ra, theo Phật giáo, còn có cái gọi là Cô-địa-ngục ở rải rác trên đất hoặc trên sông, ở sườn núi hay ở giữa cánh đồng không, như Sương-căng-đại-địa-ngục, Khủng Sơn của Nam Bộ, Biệt phú địa-ngục, v.v… cùng tương đương với Cô-địa-ngục. Vì chúng ở tản mạn khắp nơi nên gọi là Cô.

(Về địa-ngục, ngạ quỹ, súc sinh, thiên, v.v… xem Chính pháp-niệm-xứ-kinh-toàn 70 quyển, Đại chính, 17, trang 1 – 417).

-ooOoo-

 Ðầu trang | 01 | 02 | 03 | 04 | 05 | 06 | Mục lục
Nguyên thủy | Tiểu thừa | Đại thừa


Nguồn: Thư viện Hoa Sen, http://thuvienhoasen.org


[Trở về trang Thư Mục]
last updated: 02-05-2009