|
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY - THERAVĀDA NỀN TẢNG PHẬT GIÁO (MŪLABUDDHASĀSANA) QUYỂN IV - NGHIỆP VÀ QUẢ CỦA NGHIỆP (KAMMA -KAMMAPHALA)Tỳ khưu Hộ Pháp (Dhammarakkhita Bhikkhu)
1- Upathambhakakamma: Nghiệp Hỗ Trợ Thế nào gọi là nghiệp hỗ trợ? Nghiệp nào mà hỗ trợ cho nghiệp khác chưa có cơ hội sinh quả, thì có cơ hội được sinh quả; hoặc hỗ trợ cho nghiệp khác khi đã có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của nghiệp ấy được phát triển đầy đủ; và hỗ trợ cho ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp ấy; nghiệp ấy gọi là nghiệp hỗ trợ, đó là 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp) và 8 dục giới đại thiện nghiệp. * Nghiệp hỗ trợ có 3 phận sự: 2. 1 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào chưa có cơ hội sinh quả, thì nghiệp hỗ trợ này giúp cho nghiệp ấy có cơ hội sinh quả. 2. 2 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào đã có cơ hội sinh quả rồi, thì nghiệp hỗ trợ này giúp cho quả của nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 2. 3 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho quả của nghiệp khác đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp ấy. Giải thích 3 trường hợp: 2. 1 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hoặc trong kiếp hiện tại chưa có cơ hội sinh quả, thì nghiệp hỗ trợ này giúp cho nghiệp ấy có cơ hội sinh quả trong 2 thời kỳ: – Thời kỳ lúc lâm chung. – Thời kỳ sau khi đã tái sinh, kiếp hiện hữu cho đến trước lúc chết. Nghiệp hỗ trợ đó là thiện nghiệp, bất thiện nghiệp có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ hoặc trong kiếp hiện tại chưa có cơ hội sinh quả, thì nghiệp hỗ trợ giúp cho nghiệp ấy có cơ hội sinh quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau, có 8 trường hợp là: 1- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới [1]. 2- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 3- Bất thiện nghiệp (ác nghiệp) phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp (ác nghiệp) đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới [2]. 4- Bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 5- Thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 6- Thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 7- Bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 8- Bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. Để giúp hiểu rõ trường hợp thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung hỗ trợ cho thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp đã từng tạo trong những kiếp quá khứ hoặc trong kiếp hiện tại, có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, Đức Phật dạy như sau:
“Citte saṅkiliṭṭhe
duggatiṃ paṭikaṅkhā…
(Lúc lâm chung tâm bị ô
nhiễm, Bởi vậy cho nên, trong lúc lâm chung, tâm bị ô nhiễm do bởi phiền não hoặc tâm không bị ô nhiễm do bởi phiền não, thiện tâm trong sạch thanh tịnh đóng vai trò chính yếu hỗ trợ cho nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau. Giải thích 8 trường hợp: 1- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới như thế nào? Ví dụ: Ông A là một cận sự nam, nhưng ông tạo thiện nghiệp thì ít, mà tạo bất thiện nghiệp (ác nghiệp) thì nhiều, ông là người giữ gìn giới không được trong sạch và trọn vẹn. Cho nên, đến lúc lâm chung, phiền não phát sinh trong tâm của ông, làm cho tâm của ông bị ô nhiễm, phát sinh tâm kinh hãi. Nếu ông chết trong lúc ấy thì chắc chắn ác nghiệp sẽ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Khi ấy, bên cạnh ông, một người thân có trí tuệ cứu giúp ông A được thoát ra khỏi đối tượng của ác nghiệp, thay thế bằng đối tượng của thiện nghiệp, bằng cách kính thỉnh Ngài Đại đức đến hướng dẫn ông A thọ phép quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới, thỉnh chư Tỳ khưu tụng kinh Paritta (những bài kinh An Lành), thuyết pháp nhắc nhở, khuyên dạy ông A niệm Ân đức Phật,… Ông A phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có giới trong sạch. Nhờ vậy, đối tượng của ác nghiệp biến mất, tâm không còn bị ô nhiễm, đồng thời đối tượng của thiện nghiệp hiện ra, thiện tâm phát sinh, thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung này hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới, làm người trong cõi người, hoặc làm chư thiên trong cõi trời dục giới tùy theo thiện nghiệp sinh quả. Đó là thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 2- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới như thế nào? Ví dụ: Ông B là một cận sự nam, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có giới trong sạch, thường làm mọi phước thiện như bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng… Nhưng ông B không thường thực hành thiền định, không thực hành thiền tuệ; không theo học môn Vi Diệu Pháp; không hiểu rõ các pháp là vô ngã (không phải là ta, không phải của ta); không hiểu biết rõ về pháp tử sinh luân hồi của mỗi chúng sinh v.v… Khi bị lâm bệnh nặng trầm trọng, không thể sống được nữa, ông B phát sinh tâm sợ chết, phải từ bỏ vợ con, nhà cửa, của cải, tài sản v.v…, do đó làm cho tâm của ông B bị ô nhiễm bởi phiền não, đối tượng của ác nghiệp hiện ra. Ông B phát sinh tâm kinh hãi. Nếu ông B chết trong lúc ấy, thì khó tránh khỏi bất thiện nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Khi ấy, bên cạnh ông B, một người thân có trí tuệ hiểu biết giáo pháp của Đức Phật, nhắc nhở hướng dẫn ông B thọ phép quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới; khuyên ông B nhớ lại những phước thiện mà ông đã từng tạo trong kiếp hiện tại này. Ông B phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có giới trong sạch, niệm tưởng lại những phước thiện của mình. Do đó, sau khi ông B chết, nhờ thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại này có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới, sinh làm người trong cõi người hoặc sinh làm chư thiên trong cõi trời dục giới. Đó là thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 3- Bất thiện nghiệp (ác nghiệp) phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp (ác nghiệp) đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới như thế nào? Ví dụ: Ông C là người cận sự nam có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, giữ gìn giới trong sạch, thường làm mọi phước thiện như bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng v.v… Nhưng không thường thực hành thiền định, không thực hành thiền tuệ; không theo học môn Vi Diệu Pháp, không hiểu rõ các pháp là vô ngã (không phải ta, không phải của ta); không hiểu biết về pháp tử sinh luân hồi của mỗi chúng sinh… Khi bị lâm bệnh nặng trầm trọng, không thể sống được nữa, ông C phát sinh tâm sợ chết, phải từ bỏ vợ con, của cải, tài sản,… làm cho tâm của ông C bị ô nhiễm bởi phiền não; đối tượng của ác nghiệp hiện rõ, ông C phát sinh tâm kinh hãi. Khi ấy bên cạnh ông C, có người thân không có trí tuệ, không hiểu biết giáo pháp của Đức Phật, không biết cách cứu giúp ông C, không nhắc nhở, không khuyên bảo ông niệm tưởng lại mọi phước thiện mà ông C đã tạo trong kiếp hiện tại này. Bởi vậy cho nên, sau khi ông C chết, bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp mà ông đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 4- Bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới như thế nào? Ví dụ: Khi còn trẻ, ông D là người không có giới, thường tạo bất thiện nghiệp (ác nghiệp) như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu và các chất say… Ông D sống bằng nghề giết các loài gia súc, gia cầm để bán thịt. Đến khi tuổi già sức yếu, thường hay bệnh hoạn ốm đau, ông D mới biết ăn năn hối lỗi, biết hổ thẹn tội lỗi, biết ghê sợ tội lỗi, nên ông D quyết định xuất gia trở thành Tỳ khưu trong Phật giáo. Về sau, Tỳ khưu D bị lâm bệnh nặng trầm trọng nằm trên giường, những cảnh tượng giết các loài gia súc, gia cầm khi còn trẻ hiện ra trong tâm của Tỳ khưu D, làm cho tâm của Tỳ khưu D bị ô nhiễm do bởi phiền não. Tỳ khưu D phát sinh tâm kinh hãi, bất thiện nghiệp phát sinh, tâm bị ô nhiễm, đau khổ cho đến chết. Sau khi Tỳ khưu D chết, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) phát sinh lúc lâm chung, hỗ trợ bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 5- Thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới như thế nào? Ví dụ: Ông Đ là người tà kiến, thấy sai hiểu lầm, không tin tội, không tin phước, không tin có địa ngục, không tin có các cõi trời... Ông cho rằng: “Làm tội không bị tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục, làm phước cũng không được tái sinh kiếp sau lên cõi trời…” Cho nên, hàng ngày ông sinh sống bằng tà nghiệp, giết gia cầm để bán thịt. Công việc làm ăn không được thuận lợi. Về sau, ông Đ đến giúp việc trong một gia đình giàu sang, theo truyền thống Phật giáo. Hằng ngày, ông Đ thức dậy sớm lo sửa soạn các món vật thực sẵn sàng, mang theo cùng với người chủ đến chùa để cúng dường tới chư Đại đức Tỳ khưu Tăng. Vào những ngày giới uposathasīla hằng tháng, ông Đ cũng đi theo người chủ đến chùa. Tại nơi chánh điện người chủ ngồi xin thọ phép quy y Tam Bảo và bát giới uposathasīla xong, ngồi lắng nghe Ngài Đại đức Pháp sư thuyết pháp. Ông Đ ngồi chờ đợi người chủ nghe pháp xong trở về nhà. Cho nên, dù muốn dù không, ông Đ cũng ngồi lặng lẽ nghe hết thời pháp. Hằng ngày, làm những công việc như vậy, dần dần về sau ông Đ đã có chánh kiến, rồi từ bỏ tà kiến, phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, xin thọ phép quy y Tam Bảo và ngũ giới, rồi giữ gìn giới được trong sạch và trọn vẹn. Khi ông Đ bị lâm bệnh trầm trọng, vốn đời sống độc thân, nên không lưu luyến đến ai; do không có của cải, nên không luyến tiếc đến của cải; do nhờ sống gần gũi với những người có chánh kiến trong Phật giáo, nên từ bỏ được tà kiến, trở thành người có chánh kiến, thấy đúng hiểu đúng nghiệp là của riêng mình, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có giới trong sạch và trọn vẹn. Do đó, sau khi ông Đ chết, thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi trời dục giới tầng cao. Đó là thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 6- Thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới như thế nào? Ví dụ: Ông E đã từng xuất gia trở thành Tỳ khưu trong Phật giáo. Trong suốt thời gian xuất gia, Tỳ khưu E là người có giới hạnh trong sạch, theo học pháp học Phật giáo, và theo thực hành pháp hành thiền định mà chưa chứng đắc đến bậc thiền nào và thực hành thiền tuệ cũng chưa chứng đắc đến trí tuệ thiền tuệ nào. Về sau, vị Tỳ khưu E xả giới Tỳ khưu, hoàn tục trở lại gia đình, trở thành một cận sự nam. Hằng ngày, ông E theo cha đi làm nghề đánh cá để nuôi sống gia đình. Tuy ông E biết rằng: “Đó là cách sống tà mạng, nhưng không còn biết làm nghề nào khác”. Vì vậy, ông E cố gắng tinh tấn mỗi ngày làm mọi phước thiện, như bố thí, cúng dường vật thực đến chư Tỳ khưu đi khất thực. Vào những ngày bát giới uposathasīla hằng tháng, ông E cố gắng đi đến chùa xin thọ phép quy y Tam Bảo và bát giới uposathasīla trong ngày hôm ấy. Đến lúc lâm chung, tâm của ông E không bị ô nhiễm bởi phiền não, tâm vẫn bình tĩnh sáng suốt. Cho nên, sau khi ông E chết, thiện nghiệp phát sinh bình thường trong cuộc đời người tại gia, hỗ trợ cho thiện nghiệp mà ông đã từng tạo khi ông còn là vị Tỳ khưu trước kia cũng trong kiếp hiện tại này có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau làm chư thiên trong cõi trời dục giới tầng cao. Đó là thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng tạo cũng trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi thiện dục giới. 7- Bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới như thế nào? Ví dụ: Cậu G được sinh trong một gia đình có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, giữ gìn mọi truyền thống trong Phật giáo. Cho nên, khi còn nhỏ, cậu G thường theo cha mẹ đến chùa làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Đại đức Tỳ khưu Tăng. Vào những ngày bát giới uposathasīla hằng tháng, cậu G cũng đi theo cha mẹ đến chùa xin thọ phép quy y Tam Bảo và bát giới uposathasīla, nghe pháp v.v… Đến lúc trưởng thành, cậu G lập gia đình và có đông con. Cha mẹ của ông G lần lượt qua đời, nên ông không còn nương nhờ vào cha mẹ được nữa. Hằng ngày, ông G tự mình cố gắng làm việc vất vả để nuôi sống gia đình (vợ và các con). Cho nên, cơ hội tạo mọi phước thiện càng ngày càng giảm dần, bởi gánh nặng gia đình càng ngày càng thêm. Ông G không có cơ hội làm mọi phước thiện như trước nữa, giữ gìn giới không được trong sạch và trọn vẹn, nhưng chưa đến nỗi tạo bất thiện nghiệp (ác nghiệp) nặng. Đến lúc lâm chung, tâm bị mê muội. Do đó, sau khi ông G chết, bất thiện nghiệp bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Đó là bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 8- Bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới như thế nào? Ví dụ: Cậu H vốn là một đứa trẻ khó dạy, hư đốn, thích gần gũi thân cận với bạn ác, thích làm việc ác như uống rượu, hút thuốc lá, chơi cờ bạc…, y ăn cắp tiền của cha mẹ để ăn chơi lêu lổng. Cha mẹ dạy y không được, nên gởi y vào chùa, nhờ quý Ngài Đại đức, chư Tỳ khưu dạy dỗ y nên người. Quý Ngài Đại đức dạy dỗ cậu H với tâm từ, tâm bi, cậu H dần dần trở nên thuần tính, biết vâng lời quý Ngài Đại đức, chư Tỳ khưu. Qua một thời gian, quý Ngài cho phép cậu H được xuất gia trở thành Sadi, Sadi H cố gắng tinh tấn theo học pháp học Phật giáo, và thực hành pháp hành Phật giáo có phần tiến bộ. Do đó, quý Ngài cho làm lễ thọ Tỳ khưu nâng đỡ Sadi H lên trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu H sống gần gũi thân cận với quý Ngài Đại đức, biết vâng lời dạy dỗ của quý Ngài, cho nên Tỳ khưu H có được một ít kiến thức trong Phật giáo. Nhưng Tỳ khưu H lại thích giao du với một số người tại gia, bạn bè cũ, rồi từ đó đức tin càng ngày càng suy giảm, tâm không còn hoan hỷ thực hành phạm hạnh của bậc xuất gia như trước nữa, mà muốn hoàn tục trở lại làm người tại gia. Do đó, Tỳ khưu H giữ gìn giới của mình không còn được trong sạch, cho nên tâm cảm thấy nóng nảy. Trong khi chờ đợi bạn bè tìm giúp một việc làm, để có thể làm ăn sinh sống, sau khi hoàn tục, nhưng chưa thực hiện được ý định hoàn tục, thì Tỳ khưu H bị lâm bệnh nặng rồi chết đột ngột. Sau khi Tỳ khưu H chết, bất thiện nghiệp bình thường của Tỳ khưu H, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp mà Tỳ khưu H đã từng tạo trước khi xuất gia trở thành Tỳ khưu có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Đó là bất thiện nghiệp phát sinh bình thường trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau, trong cõi ác giới. 2. 2 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào đã có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của nghiệp ấy được phát triển đầy đủ, có 10 trường hợp như sau: 1- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 2- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 3- Bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 4- Bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 5- Thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại (pavattikāla [4]), hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 6- Thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 7- Bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 8- Bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 9- Thiện nghiệp đã từng được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 10- Bất thiện nghiệp đã từng được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. Giải thích 10 trường hợp: 1- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng được tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông A vốn là người hiền lương, biết hổ thẹn tội lỗi, biết ghê sợ tội lỗi, thường tránh xa mọi tội ác, làm ăn sinh sống lương thiện. Gia đình của ông nghèo, hằng ngày ông phải vất vả làm mọi công việc để nuôi sống gia đình. Cho nên, ông không có khả năng làm phước bố thí lớn lao. Bởi vì, còn bận lo công việc làm ăn, nên ông ít có cơ hội nghe pháp, xem kinh, đọc sách,... Nhưng do nhờ sống lương thiện, cho nên lúc lâm chung tâm của ông được trong sạch, bình tĩnh, sáng suốt. Sau khi ông A chết, thiện nghiệp làm phận sự sinh quả tái sinh kiếp sau làm người trong một gia đình giàu sang phú quý, có quyền cao chức trọng, hoặc tái sinh làm vị thiên nam ở địa vị cao quý trong cõi trời ấy. Đó là thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp mà ông A đã từng tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 2- Thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông B là người cận sự nam có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, giữ gìn ngũ giới trong sạch và trọn vẹn; thọ trì bát giới uposathasīla trong những ngày giới hằng tháng. Ông B thường làm phước thiện bố thí đến người khác, cung kính lắng nghe chánh pháp; đôi khi ông cũng thực hành thiền định, nhưng chưa chứng đắc bậc thiền nào, cũng thực hành thiền tuệ, nhưng cũng chưa chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả nào. Cho nên, lúc lâm chung tâm của ông được trong sạch, bình tĩnh, sáng suốt. Sau khi ông B chết, thiện nghiệp làm phận sự sinh quả tái sinh kiếp sau làm người trong gia đình giàu sang phú quý, có quyền cao chức trọng, hoặc tái sinh làm vị thiên nam ở địa vị cao quý trong cõi trời ấy. Đó là thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho thiện nghiệp mà ông B đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, thì giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 3- Bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông C vốn là người keo kiệt bủn xỉn trong của cải tài sản của mình. Ông rất cần cù làm việc để kiếm cho được nhiều vàng bạc của cải, nên không quan tâm đến việc làm phước bố thí tiếp độ người khác, nhưng ông không làm những việc ác do thân, khẩu và ý. Đến lúc lâm chung, ông sợ chết phải bỏ hết của cải tài sản mà ông đã dành dụm, cho nên, tâm của ông bị ô nhiễm. Sau khi ông C chết, bất thiện nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu khổ lâu dài. Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp mà ông đã từng tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 4- Bất thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông D vốn là người có tà kiến, không tin nghiệp và quả của nghiệp. Ông thấy sai hiểu lầm rằng: “Làm phước không có phước, làm tội cũng không có tội, không có cõi địa ngục, cũng không có cõi trời nào…” Do đó, ông không chịu lắng nghe lời dạy của các bậc thiện trí. Đến lúc lâm chung, tâm của ông bị ô nhiễm, mê muội. Sau khi ông D chết, bất thiện nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục chịu khổ lâu dài. Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, hỗ trợ cho bất thiện nghiệp mà ông đã tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 5- Thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavattikāla), hỗ trợ cho thiện nghiệp đã từng tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Cậu bé Đ được sinh trong gia đình theo truyền thống Phật giáo. Khi cậu bé mới được 2 - 3 tuổi, cha mẹ dạy cậu biết đảnh lễ Đức Phật. Khi cha mẹ dắt cậu lên chùa, cậu biết vào chánh điện đảnh lễ Đức Phật; gặp chư Đại đức, Tỳ khưu, Sadi cậu đều đảnh lễ quý Ngài; biết dâng cúng dường vật thực đến chư Đại đức Tỳ khưu, Sadi, rồi đảnh lễ quý Ngài. Cậu bé Đ chết lúc 4 tuổi, sau khi chết, thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh lên cõi trời dục giới tầng cao, ở địa vị cao quý, được hưởng mọi sự an lạc cao quý đặc biệt trong cõi trời ấy. Đó là thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavat-tikāla), hỗ trợ cho thiện nghiệp mà cậu bé Đ đã từng tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ (còn cậu bé Đ chết lúc 4 tuổi là do nghiệp khác). 6- Thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavattikāla), hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Cậu E là con của gia đình theo Phật giáo, cha mẹ của cậu đều là người trí thức, có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hiểu biết sâu sắc trong Phật giáo. Cho nên, khi cậu E còn nhỏ, cha mẹ đã dạy cậu biết thọ phép quy y Tam Bảo, biết giữ gìn ngũ giới hằng ngày, biết thọ trì bát giới uposathasīla trong những ngày giới hằng tháng. Cậu biết phân biệt thiện nghiệp, bất thiện nghiệp (ác nghiệp). Khi lớn lên, cậu E có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, giữ gìn ngũ giới trong sạch, thọ trì bát giới uposathasīla trong những ngày giới hằng tháng, thích làm phước bố thí đến những người nghèo khổ. Cậu thường đến chùa nghe pháp, ham học pháp học Phật giáo, ham hành pháp hành thiền định, nhưng chưa chứng đắc được bậc thiền nào, và ham hành pháp hành thiền tuệ, nhưng chưa chứng đạt đến bậc Thánh. Sau khi cậu E chết, thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau làm người trong gia đình phú hộ, khi sinh ra đời, hậu kiếp của cậu E được mọi người trong gia đình đều thương yêu quý mến nhất, cậu hưởng mọi sự thuận lợi, sự an lạc trong cuộc đời của cậu. Đó là thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pava-ttikāla), hỗ trợ cho thiện nghiệp mà cậu E đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 7- Bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavatti-kāla), hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Cậu G là con của một gia đình giàu có, nhưng không có đức tin nơi Tam Bảo, cho nên, từ nhỏ đến lớn, cậu không được nghe chánh pháp, không có đức tin nơi Tam Bảo, không giữ giới, không hiểu biết về thiện nghiệp, ác nghiệp… Cậu là đứa con được cha mẹ nuông chiều, nên cậu G chỉ biết ăn chơi lêu lổng, nhưng chưa đến mức tạo bất thiện nghiệp nặng. Sau khi cậu G chết, bất thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục, chịu bao nhiêu nỗi khổ. Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavattikāla), hỗ trợ cho bất thiện nghiệp mà cậu G đã từng tạo trong những kiếp quá khứ đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 8- Bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavatti-kāla), hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông H là người có tà kiến, không tin nghiệp và quả của nghiệp, không tin rằng: làm phước thì được phước, làm tội thì có tội. Ông tự cho rằng: “Chết là hết”. Sau khi ông H chết, bất thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái kiếp sau sinh trong cõi địa ngục, phải chịu bao nhiêu nỗi khổ trong cõi địa ngục. Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện hữu (pavattikāla), hỗ trợ cho bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 9- Thiện nghiệp đã từng được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông I là người đã từng tích lũy các pháp hạnh ba-la-mật từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ và đã từng có lời phát nguyện kiếp sau được xuất gia. Kiếp hiện tại, ông I sinh ra đời gặp Phật giáo, lắng nghe pháp sư thuyết pháp, ông liền phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, rồi tư duy rằng: “Đời sống người tại gia bị nhiều ràng buộc, khó thực hành phạm hạnh cho được trong sạch thanh tịnh. Điều tốt nhất ta nên từ bỏ nhà đi xuất gia trở thành Tỳ khưu trong Phật giáo”. Sau khi đã nhận thức đúng đắn, ông liền thực hiện theo ý nghĩ của mình. Ông I đã xuất gia trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu I cố gắng tinh tấn theo học pháp học Phật giáo và theo thực hành pháp hành Phật giáo. Tỳ khưu I thực hành pháp hành thiền định, nhưng chưa chứng đắc các bậc thiền nào, và thực hành thiền tuệ, chưa chứng đắc bậc Thánh nào. Vị Tỳ khưu I trở thành một vị pháp sư có tài thuyết pháp tế độ nhiều người. Sau khi vị Tỳ khưu I chết, thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau làm vị thiên nam cao quý trong tầng trời cao cõi dục giới, được hưởng mọi sự an lạc đặc biệt trong tầng trời ấy. Đó là thiện nghiệp đã từng tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. * Như trường hợp chư Bồ Tát đã từng tích lũy các pháp hạnh ba-la-mật từ vô số kiếp trong quá khứ, hỗ trợ cho mỗi kiếp hiện tại càng cao thượng hơn, nghĩa là kiếp hiện tại cao thượng hơn kiếp quá khứ. * Như Đức Bồ Tát tiền kiếp của Đức Phật Gotama, kiếp Đức Bồ Tát Đức vua Vessantara tạo pháp hạnh bố thí ba-la-mật, như bố thí voi báu, bố thí Hoàng tử Jālī, bố thí Công chúa Kaṇhājinā và bố thí chánh cung Hoàng hậu Maddī… Sau khi Đức vua băng hà, thiện nghiệp làm phận sự sinh quả tái sinh làm vị thiên nam cao thượng nhất trong tầng trời Tusita (Đấu Xuất Đà Thiên), cõi trời thứ tư trong 6 tầng trời dục giới. Đức Bồ Tát thiên nam Setaketu tiền kiếp của Đức Phật Gotama, sau khi chết từ cõi trời Tusita, thiện nghiệp sinh quả tái sinh đầu thai vào lòng mẫu thân Mahāmayādevi - chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Suddhodana kinh thành Kapila-vatthu. Đúng 10 tháng sau, vào ngày rằm tháng tư (âm lịch) Đức Bồ Tát Thái tử Siddhattha đản sinh ra đời, kiếp chót có đầy đủ 32 tướng tốt của bậc Đại nhân và 80 tướng tốt phụ. Đó là quả của thiện nghiệp cũng là quả của 30 pháp hạnh ba-la-mật mà Đức Bồ Tát đã tích lũy từ vô số kiếp trong quá khứ. Chính thiện nghiệp 30 pháp hạnh ba-la-mật đã từng được tích lũy từ vô số kiếp trong quá khứ ấy hỗ trợ cho kiếp hiện tại Đức Bồ Tát Siddhattha trở thành Đức Phật Gotama. 10- Bất thiện nghiệp đã được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho những bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ như thế nào? Ví dụ: Ông K là người ác, không có giới, tạo mọi ác nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu và các chất say… Sau khi ông K chết, bất thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh trong cõi đại địa ngục, phải chịu bị hành hạ cực hình nặng nề, khổ thân, khổ tâm lâu dài trong cõi địa ngục. Đó là bất thiện nghiệp đã tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho những bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại đang có cơ hội sinh quả rồi, lại giúp cho quả của bất thiện nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. 2. 3 Nghiệp hỗ trợ có phận sự hỗ trợ cho quả của nghiệp khác đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp ấy, có 7 trường hợp: 1- Thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 2- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển đầy đủ và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 3- Bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 4- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 5- Thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 6- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 7- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. Giải thích 7 trường hợp: - Trường hợp thứ nhất đến trường hợp thứ tư, giải thích theo Chú giải và bộ Phụ chú giải. - Trường hợp thứ 5 đến trường hợp thứ 7, giải thích theo bộ Paramatthadīpanīṭīka và bộ Bhāsāṭīkā. 1- Thiện nghiệp đã từng được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? Đức Bồ Tát Siddhattha kiếp chót đản sinh ra đời, kim thân của Ngài có đầy đủ 32 tướng tốt của Bậc Đại nhân, và 80 tướng tốt phụ; khi nhãn thức tâm thấy sắc trần, khi nhĩ thức tâm nghe thanh trần, khi tỷ thức tâm ngửi hương trần, khi thiệt thức tâm nếm vị trần, khi thân thức tâm xúc giác xúc trần phần nhiều bằng thiện quả vô nhân tâm phát sinh biết các đối tượng đáng hài lòng… Đó là thiện nghiệp đã từng được tích lũy trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 2- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? Trong thời kỳ Đức Phật Gotama của chúng ta, gia đình ông Puṇṇa [5] nghèo khổ, làm ruộng thuê của ông phú hộ Sumana, toàn thể mọi người trong gia đình đều có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo: Ngài Đại đức Sāriputta nhập diệt thọ tưởng suốt 7 ngày đêm. Sáng hôm ấy, sau khi xả diệt thọ tưởng, Ngài Đại đức Sāriputta đi khất thực, khi đi ngang qua nơi ông Puṇṇa đang cày ruộng, ông Puṇṇa đón rước đảnh lễ Ngài và dâng cây tăm xỉa răng và nước uống. Ngài Đại đức nhận xong, đi theo đường hướng về nhà ông Puṇṇa, gặp vợ ông Puṇṇa đang đem cơm cho chồng. Bà đảnh lễ Ngài Đại đức xong bạch rằng: - Kính bạch Ngài Đại đức, kính xin Ngài từ bi tế độ thọ nhận phần vật thực của phận nghèo khó của gia đình con. Ngài Đại đức từ bi tế độ thọ nhận tất cả phần vật thực. Bà vô cùng hoan hỷ trở về nhà, nấu phần cơm khác đem cho chồng. Ông Puṇṇa thả bò đi ăn cỏ, ông ngồi dưới bóng cây chờ đợi vợ, tuy đói bụng, nhưng tâm vô cùng hoan hỷ niệm tưởng đến phước thiện bố thí tăm xỉa răng và nước uống đến Ngài Đại đức Sāriputta. Ông nhìn thấy vợ từ xa đến trễ hơn mọi ngày, nhưng bà có vẻ khác thường. Chắc chắn bà đang hoan hỷ một điều gì đó. Vừa mới đến nơi, bà liền thưa với chồng rằng: - Hôm nay, xin anh hãy hoan hỷ thật nhiều! Sáng nay, khi em đem cơm cho anh, giữa đường gặp Ngài Đại đức Sāriputta đang đi khất thực, em phát sinh đức tin trong sạch đem phần cơm của anh để bát cúng dường đến ngài Đại đức. Ngài không chê vật thực nghèo khó của chúng ta, mà thọ nhận phần vật thực ấy. Xin anh nên hoan hỷ phần phước thiện bố thí này! Ông Puṇṇa phát sinh thiện tâm vô cùng hoan hỷ và ông cũng nói cho bà biết rằng: - Chính sáng nay, anh cũng làm phước bố thí tăm xỉa răng và nước uống đến Ngài Đại đức Sāriputta. Khi hai vợ chồng ông Puṇṇa đang phát sinh thiện tâm hoan hỷ phước thiện bố thí, ông nhìn xuống thửa ruộng, đất vừa mới cày đã hóa thành vàng ròng sáng chói. Ông không tin vào mắt mình, ông xuống thửa ruộng lấy lên một thỏi vàng ròng và đưa cho vợ xem. Đúng là vàng thật! Ông Puṇṇa đem thỏi vàng ấy đến xin yết kiến Đức vua, xin Đức vua truyền lệnh đem 1000 chiếc xe khuân tất cả số vàng về cất trong kho báu của Đức vua. Thực ra, số vàng to lớn ấy không phải là của Đức vua, mà là của ông bà Puṇṇa. Số vàng to lớn ấy là quả báu của phước thiện bố thí, mà ông bà Puṇṇa đã dâng cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta ngày hôm ấy. Thật vậy, lính trong triều đình đem 1000 chiếc xe đến thửa ruộng, để thu nhặt những thỏi vàng của Đức vua, thì những thỏi vàng ấy trở lại thành cục đất như cũ. Lính về tâu lên Đức vua rõ sự việc. Đức vua truyền lệnh rằng: - Các người hãy nghĩ rằng: “Vàng của ông bà Puṇṇa”. Họ vâng lệnh Đức vua. Thật đúng vậy, lần này họ khuân toàn bộ số vàng ấy đem về chất giữa sân rồng thành một đống vàng cao 180 gang tay. Do đó, Đức vua tấn phong ông Puṇṇa là “đại phú hộ”. Sau khi trở thành đại phú hộ Puṇṇa, gia đình ông càng có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Đại đức Tăng có Đức Phật chủ trì suốt 7 ngày. Đến ngày thứ 7 Đức Phật thuyết pháp tế độ gia đình ông Puṇṇa. Toàn gia đình ông đại phú hộ Puṇṇa: Ông, bà và cô con gái Uttarā đều chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu [6]. Đó là thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 3- Bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? – Chúng sinh trong địa ngục luôn luôn bị hành hạ chịu bao nỗi thống khổ cùng cực, tử rồi lại tái sinh cứ tiếp diễn như vậy trong cõi địa ngục trải qua nhiều đại kiếp trái đất. – Chúng sinh loài ngạ quỷ chịu cảnh đói khát khổ đau trải qua thời gian lâu dài hằng bao nhiêu kiếp trái đất vẫn chưa thoát khỏi. – Loài súc sinh như những con chó bị bệnh ghẻ ngứa khó chịu, nó cứ chạy chỗ này đến chỗ khác, chạy đến nơi nào cũng bị người ta xua đuổi, nó bị đói khát, thân mình ốm gầy… Thế mà chúng vẫn kéo dài sinh mạng qua nhiều tháng v.v… Đó là bất thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 4- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? – Một số loài súc sinh như con cọp, con beo, con thằn lằn, con mèo… là quả của bất thiện nghiệp, chúng nó sống bằng cách bắt sống các con vật khác làm vật thực để duy trì tồn tại trong kiếp sống hiện tại. – Hoặc có một số người mang chứng bệnh nan y là quả phát sinh từ bất thiện nghiệp. Nhưng số người ấy không biết giữ gìn sức khoẻ, mà hằng ngày họ hút thuốc lá, uống rượu… làm cho chứng bệnh ngày càng phát triển, sự khổ thân càng ngày càng tăng thêm. Đó là bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 5- Thiện nghiệp đã từng được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? Loài gia súc như con chó là quả của bất thiện nghiệp. Nhưng có một số con chó được người chủ chăm nom săn sóc nuôi dưỡng rất tử tế. Thậm chí, hằng ngày chúng nó có người lo phục vụ: Nào tắm rửa, nào lau mình, nào làm vệ sinh chỗ ở...; về mùa lạnh, chúng nó được mặc đồ ấm; khi chúng nó bị bệnh có bác sĩ thú y chăm lo chữa trị. Chúng nó được người chủ hết mực thương yêu, cho nên đời sống của chúng rất đầy đủ. Đó là thiện nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 6- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? – Loài súc sinh như một số con chó rất tinh khôn, biết nghe lời người chủ dạy như: Bảo chúng ngồi đưa 2 chân trước lên chắp lại cúi xuống lạy; sai chúng ngậm tiền chạy mua tờ báo; loại chó cảnh sát biết ngửi mùi tìm kẻ gian, nhận ra kẻ gian,… những con chó ấy được người chủ thương yêu, chăm nom nuôi nấng chúng rất tử tế, cho nên đời sống của chúng được an lạc. – Hoặc những con chim sáo, con chim vẹt mà người chủ có thể dạy chúng nói được tiếng người như: Chào hỏi khách đến, biết tụng bài kinh ngắn,… làm cho người nghe vui tai, nên chúng được người trong gia đình thương yêu, được nuôi nấng tử tế. Đó là thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của bất thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 7- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại như thế nào? Một số người làm nghề bán vũ khí giết người, buôn bán rượu và các chất say; buôn bán ma tuý, heroin; làm nghề đánh cá; làm nghề giết gia súc, giết gia cầm, giết trâu, bò, gà, vịt,… để bán thịt; trộm cắp, hối lộ phi pháp v.v… số người ấy sống bằng tà nghiệp, tà mạng, tạo bất thiện nghiệp, hỗ trợ cho họ có nhiều tiền của, giàu có, đời sống đầy đủ sung túc trong kiếp hiện tại. Đó là bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. Tóm lại: Cõi người này, trong thời kỳ thiện pháp tăng trưởng, thì mọi thiện nghiệp tăng trưởng (bất thiện nghiệp không tăng trưởng), hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. Và trong thời kỳ bất thiện pháp (ác pháp) tăng trưởng, thì mọi bất thiện nghiệp (ác nghiệp) tăng trưởng (thiện nghiệp không tăng trưởng) hỗ trợ cho quả của thiện nghiệp đó là ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì tồn tại trong kiếp hiện tại. 2- Upapīḷakakamma: Nghiệp Hãm Hại Thế nào gọi là nghiệp hãm hại? Nghiệp nào hãm hại nghiệp đối nghịch và hãm hại ngũ uẩn, quả của nghiệp đối nghịch, nghiệp ấy gọi là nghiệp hãm hại, đó là 12 bất thiện nghiệp và 8 dục giới đại thiện nghiệp. * Nghiệp hãm hại có 3 phận sự: 3. 1 Nghiệp hãm hại có phận sự ngăn cản nghiệp đối nghịch khác không cho có cơ hội sinh quả của nó. 3. 2 N ghiệp hãm hại có phận sự kìm hãm nghiệp đối nghịch đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả. 3. 3 Nghiệp hãm hại có phận sự làm biến đổi ngũ uẩn, quả của nghiệp đối nghịch ấy. Mỗi phận sự như thế nào? 3. 1 Nghiệp hãm hại có phận sự ngăn cản nghiệp đối nghịch khác không cho có cơ hội sinh quả của nó, có 2 trường hợp: a- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hãm hại, ngăn cản bất thiện nghiệp không cho có cơ hội sinh quả của nó. b- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hảm hại, ngăn cản thiện nghiệp không cho có cơ hội sinh quả của nó. Giải thích 2 trường hợp: a) Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hãm hại, ngăn cản bất thiện nghiệp không cho có cơ hội sinh quả của nó như thế nào? Ví dụ: Khi chưa gặp được bậc thiện trí, ông A thường thân cận, gần gũi với các người ác, bắt chước theo các người ác, nên ông đã tạo mọi ác nghiệp như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu và các chất say… Về sau, ông A gặp được bậc thiện trí, lắng nghe chánh pháp của bậc thiện trí, đã phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo. Ông A xin thọ phép quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới, ông biết hổ thẹn tội lỗi, biết ghê sợ tội lỗi, tin nghiệp và quả của nghiệp. Cho nên ông A có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, và giữ gìn ngũ giới của mình được trong sạch và trọn vẹn, cố gắng tạo mọi thiện nghiệp như bố thí, giữ giới, thực hành thiền định nhưng chưa chứng đắc bậc thiền nào; thực hành thiền tuệ mà chưa chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả nào, vẫn còn là hạng phàm nhân. Đến lúc lâm chung ông A nằm bình tĩnh, tâm trí sáng suốt, hoan hỷ với những thiện nghiệp của mình đã tạo. Sau khi ông A chết, thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau làm vị thiên nam trong cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy. Đó là thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hãm hại, ngăn cản những bất thiện nghiệp (ác nghiệp) đã được tạo trong thời gian trước, không có cơ hội sinh quả của nó. b) Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hãm hại, ngăn cản thiện nghiệp không cho có cơ hội sinh quả của nó như thế nào? Ví dụ: Cậu B là người được sinh trưởng trong gia đình theo truyền thống Phật giáo. Khi còn nhỏ ở nhà, cậu được cha mẹ dạy dỗ biết tụng kinh lễ bái Tam Bảo; lúc đến chùa, cha mẹ dạy cậu biết đảnh lễ Phật, biết đảnh lễ chư Tỳ khưu Tăng, biết dâng những thứ vật dụng... đến chư Tỳ khưu, Sadi. Khi lớn lên được 10 tuổi, cha mẹ chấp thuận cho phép cậu xuất gia trở thành Sadi, ở trong chùa theo học pháp học. Đến khi vị Sadi B tròn 20 tuổi, chư Tỳ khưu Tăng cho phép làm lễ nâng vị Sadi B trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu B cố gắng tinh tấn ham học pháp học, ham hành pháp hành: Giới-định-tuệ, nên mọi thiện pháp được phát triển. Về sau, Tỳ khưu B có đức tin càng ngày càng giảm dần, nên không còn muốn ham học pháp học và không còn muốn ham hành pháp hành như trước nữa. Do đó, Tỳ khưu B xin xả giới Tỳ khưu hoàn tục, xin thọ phép quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới trở về nhà, trở thành người cận sự nam sống tại gia. Cận sự nam B có vợ và có nhiều con, khi cha mẹ đã qua đời, gia đình cận sự nam B không còn nhờ cậy cha mẹ được nữa. Gia đình lâm vào cảnh nghèo khổ, túng thiếu, cận sự nam B phải làm lụng vất vả suốt ngày đêm, để nuôi vợ và các con. Do làm nghề giết hại gia súc, gia cầm bán thịt… cho nên, cận sự nam B giữ gìn giới của mình không còn trong sạch như trước. Tuy làm bằng tà nghiệp, sống bằng tà mạng, nhưng gia đình cận sự nam B vẫn nghèo khổ, thiếu thốn. Đến lúc sắp lâm chung, cận sự nam B cảm thấy khổ thân, khổ tâm vô cùng, tâm bị ô nhiễm. Sau khi cận sự nam B chết, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới. Đó là bất thiện nghiệp (ác nghiệp) đã được tạo trong kiếp hiện tại, trong thời gian sau, hãm hại, ngăn cản thiện nghiệp đã được tạo kiếp hiện tại trong thời gian trước không cho có cơ hội cho quả của nó. 3. 2 Nghiệp hãm hại có phận sự kìm hãm nghiệp đối nghịch đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả, có 2 trường hợp: a- Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, có phận sự kìm hãm bất thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của bất thiện nghiệp ấy. b- Bất thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, có phận sự kìm hãm thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp ấy. Giải thích 2 trường hợp: a) Thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, có phận sự kìm hãm bất thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của bất thiện nghiệp ấy như thế nào? Ví dụ: Đức vua Ajātasattu vốn là một người có đầy đủ thiện nghiệp ba-la-mật có thể trở thành bậc Thánh ngay trong kiếp hiện tại. Nhưng Đức vua gần gũi thân cận với Tỳ khưu Devadatta, nghe lời khuyến dụ của Tỳ khưu Devadatta, giết cha là Đức thái thượng hoàng Bimbisāra, Đức vua Ajātasattu phạm trọng tội giết cha thuộc vào 1 trong 5 ác nghiệp vô gián, chắc chắn sẽ sinh quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ thiêu đốt suốt thời gian lâu dài nhiều kiếp trái đất. Nhưng Đức vua Ajātasattu biết ăn năn hối lỗi về trọng tội giết Phụ vương của mình, ngự đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin sám hối tội lỗi của mình. Đức Thế Tôn chứng minh lời sám hối của Đức vua, rồi thuyết pháp tế độ Đức vua. Khi ấy, nếu Đức vua không phạm trọng tội giết cha, thì ngay sau khi lắng nghe Đức Phật thuyết pháp, Đức vua sẽ trở thành bậc Thánh Nhập Lưu tại nơi ấy. Nhưng vì phạm trọng tội giết cha, nên Đức vua không thể trở thành bậc Thánh Nhân, Đức vua chỉ có đức tin nơi Tam Bảo, xin thọ phép quy y Tam Bảo, hết lòng tận tâm lo phục vụ Tam Bảo. Đức vua là người hộ độ 500 vị Thánh Arahán trong kỳ kết tập Tam Tạng và Chú giải lần thứ nhất, sau khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn được 3 tháng 4 ngày, do Ngài Đại trưởng lão Mahākassapa chủ trì, tại động Sattapaṇṇi gần kinh thành Rājagaha xứ Magadha, thời gian suốt 7 tháng mới hoàn thành trọn bộ Tam Tạng Pāḷi và Chú giải. Như vậy, trong kiếp hiện tại Đức vua Ajātasattu đã tạo thiện nghiệp lớn lao trong thời kỳ sau khi đã phạm trọng tội giết cha thuộc vào 1 trong 5 ác nghiệp vô gián. Cho nên, đáng lẽ sau khi Đức vua Ajātasattu chết, ác nghiệp vô gián ấy chắc chắn sinh quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ bị thiêu đốt suốt thời gian lâu dài hằng nhiều kiếp trái đất. Nhưng nhờ thiện nghiệp lớn lao mà Đức vua Ajātasattu đã tạo suốt thời gian sau cho đến trọn đời, kìm hãm bất thiện nghiệp giết cha, thay vì sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ suốt thời gian lâu dài hằng nhiều kiếp trái đất; thì tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục nhỏ Lohakumbhī (nồi đồng sôi) suốt thời gian 60.000 năm mới mãn quả ác nghiệp ấy. Hậu kiếp của Đức vua Ajātasattu sau khi thoát ra khỏi địa ngục Lohakumbhī, rồi nhờ thiện nghiệp làm phận sự sinh quả tái sinh trở lại làm người trong thời kỳ không có Phật giáo trên thế gian, hậu thân của Đức vua Ajātasattu xuất gia sẽ trở thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu “Đức Phật Độc Giác Vijitāvī” rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Đó là thiện nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại có phận sự kìm hãm bất thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của bất thiện nghiệp ấy. b) Bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại, có phận sự kìm hãm thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp ấy như thế nào? Ví dụ: Một thí chủ là người cận sự nữ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp đứng ra tổ chức buổi lễ làm phước cúng dường đến chư Đại đức Tăng rất đông. Thật ra, thí chủ này đã có tác ý thiện tâm hoan hỷ từ trước, nên đã chuẩn bị sẵn sàng những thứ vật dụng. Đến ngày lễ chính thức tại ngôi chùa mọi người tụ hội đông đủ, chư Đại đức Tăng khách cũng được thỉnh mời đến. Toàn thể chư Đại đức Tăng và khách đều tập trung tại chánh điện. Buổi lễ làm phước bố thí cúng dường được cử hành rất long trọng. Riêng người thí chủ chính có điều không hài lòng trong buổi lễ ấy; tuy vậy, người thí chủ chính vẫn tự tay dâng cúng dường đến chư Đại đức Tăng một cách cung kính bình thường, nhưng tâm không được hoan hỷ bởi do có điều không hài lòng trong buổi lễ ấy. Còn phần đông mọi người đều phát sinh thiện tâm vô cùng hoan hỷ trong buổi lễ làm phước thiện cúng dường lớn lao ấy. Như vậy, khi thí chủ tạo thiện nghiệp bố thí cúng dường đến chư Đại đức Tăng, và bất thiện nghiệp phát sinh vì không hài lòng trong buổi lễ lẫn lộn. Do đó, làm cho thiện nghiệp bố thí cúng dường đến chư Đại đức Tăng không hoàn toàn trong sạch. Cho nên, bất thiện nghiệp ấy kìm hãm thiện nghiệp bố thí cúng dường đến chư Đại đức Tăng, làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp bố thí ấy. Thật vậy, sau khi người thí chủ ấy chết, nếu thiện nghiệp bố thí ấy có cơ hội sinh quả tái sinh làm người đáng lẽ có tam nhân (vô tham, vô sân và vô si (trí tuệ)), thì chỉ có nhị nhân (vô tham và vô sân) mà thôi. Bởi vì, bất thiện nghiệp được phát sinh kìm hãm thiện nghiệp, làm suy yếu tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp ấy. Đó là bất thiện nghiệp phát sinh trong kiếp hiện tại, có phận sự kìm hãm thiện nghiệp đã có cơ hội sinh quả rồi, thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp ấy. 3. 3 Nghiệp hãm hại có phận sự làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp đối nghịch ấy, có 2 trường hợp: a- Thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp. b- Bất thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp. Giải thích 2 trường hợp: a) Thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp ấy như thế nào? Ví dụ: Một người nghèo khổ, thường hay bệnh hoạn ốm đau, chịu bao nhiêu nỗi khổ thiếu thốn những nhu cầu cần thiết trong cuộc sống... đó là quả của bất thiện nghiệp mà người ấy đã từng tạo trong những kiếp quá khứ, hoặc trong kiếp hiện tại này. Hằng ngày, người ấy sống bằng nghề lượm đồ phế thải, không có nơi nương tựa. Một hôm, một người thiện trí có tâm bi cứu khổ, gặp người ấy đang lâm bệnh, nằm một nơi không có người săn sóc. Người thiện trí gọi xe đưa bệnh nhân ấy đi bệnh xá để chữa trị, ít hôm sau người ấy được khỏi bệnh. Người thiện trí nghĩ rằng: “Nếu ta đem người ấy về ở trong nhà, thì người ấy chỉ giảm bớt được phần khổ thân mà thôi; nếu ta gửi người ấy vào ở trong chùa, thì người ấy không những chỉ giảm được phần khổ thân, mà còn giảm được phần khổ tâm nữa”. Nghĩ xong, người thiện trí dẫn người ấy đem gửi vị Đại đức trụ trì một ngôi chùa, nhờ Ngài tế độ người nghèo khổ ấy. Từ đó, người ấy có nơi ăn chốn ở đàng hoàng, rồi phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, xin thọ phép quy y Tam Bảo trở thành người cận sự nam trong Phật giáo, thọ trì bát giới uposathasīla để thích ứng với đời sống ở trong chùa. Hằng ngày, người cận sự nam ấy biết lo công việc lau chùi, quét dọn sạch sẽ trong và xung quanh chánh điện, nơi cội Đại Bồ Đề, chăm sóc cây cảnh trong chùa... tạo cho cảnh quang ngôi chùa sạch đẹp. Người cận sự nam ấy là người dễ dạy, hằng ngày, biết tụng kinh, thực hành thiền định niệm Ân đức Phật...; biết cung kính hộ độ từ Ngài Đại Trưởng Lão cho đến vị Tỳ khưu, Sadi nhỏ, cho nên, người cận sự nam được quý Ngài thương yêu quý mến. Người ấy còn tận tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện, tiện nghi, phụ giúp những người cận sự nam, cận sự nữ đến chùa dâng hoa lễ Phật, làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Đại đức, Tỳ khưu, Sadi, cho nên, người cận sự nam ấy cũng được những người cận sự nam, cận sự nữ khác thương yêu quý mến. Từ khi người ấy ở trong chùa đời sống vật chất và tinh thần được thoải mái, cho nên người ấy không còn bệnh hoạn ốm đau như trước nữa. Bây giờ, người ấy là người cận sự nam có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có giới hạnh, có sức khỏe tốt, mỗi ngày, mọi thiện pháp tăng trưởng; nhất là người cận sự nam ấy được phần đông chư Đại đức, Tỳ khưu, Sadi, và cận sự nam, cận sự nữ thương yêu quý mến giúp đỡ. Đó là thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp. b) Bất thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp như thế nào? Ví dụ: Trong đời này, một người có thân thể khỏe mạnh, tâm trí sáng suốt, có một cuộc sống giàu sang phú quý, có quyền cao chức trọng, có đầy đủ về mọi phương diện, cuộc sống được an lành hạnh phúc..., đó là quả của thiện nghiệp mà người ấy đã từng tạo trong những kiếp quá khứ hoặc trong những kiếp hiện tại. Nhưng về sau, người ấy bị lâm bệnh nan y (bệnh ung thư, hoặc bị bệnh bại liệt toàn thân, hoặc bị tai biến mạch máu não, hoặc bị tai nạn gây thương tật suốt đời...), hoặc gặp cơn tai biến tan gia bại sản, mất chức mất quyền v.v.. Những điều bất hạnh xảy ra trong đời sống của người ấy đều là quả của bất thiện nghiệp mà người ấy đã từng tạo trong những kiếp quá khứ hoặc kiếp hiện tại này. Hoặc một đứa trẻ được tái sinh làm người đó là quả của thiện nghiệp. Nhưng khi sinh ra đời, đứa trẻ bị mù, bị câm điếc... đó là quả của bất thiện nghiệp kìm hãm tiềm năng sinh quả của thiện nghiệp ấy. Đó là bất thiện nghiệp hãm hại làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp. 3- Upaghātakakamma: Nghiệp Sát Hại Thế nào gọi là nghiệp sát hại? Nghiệp nào có phận sự sát hại, cắt đứt nghiệp khác, và sát hại cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác, nghiệp ấy gọi là nghiệp sát hại, đó là 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp) [7], 21 thiện nghiệp [8]. * Sự khác biệt giữa nghiệp hãm hại và nghiệp sát hại – Nghiệp hãm hại là nghiệp có phận sự hãm hại, ngăn cản nghiệp đối nghịch khác không cho có cơ hội sinh quả, hoặc khi đã có cơ hội sinh quả rồi thì làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả hoặc làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp đối nghịch ấy. – Nghiệp sát hại là nghiệp có phận sự cắt đứt nghiệp nào rồi, thì nghiệp ấy vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa, hoặc cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác, cắt đứt một phần hoặc cắt đứt toàn phần, sát hại sinh mạng của chúng sinh ấy. * Nghiệp sát hại có 2 phận sự: 4. 1 Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. 4. 2 Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác, cắt đứt một phần hoặc cắt đứt toàn phần, sát hại sinh mạng của chúng sinh ấy. 4. 1 Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa, có 3 trường hợp: a- Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt bất thiện nghiệp khác. b- Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt thiện nghiệp khác. c- Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt thiện nghiệp khác. Giải thích 3 trường hợp: a) Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt bất thiện nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa như thế nào? Trước khi chưa chứng đắc thành bậc Thánh Arahán, Ngài Đại đức Aṅgulimāla là kẻ cướp sát nhân đã từng giết chết hơn 1.000 người. Như vậy, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) sát sinh của Ngài khó tránh khỏi sinh quả tái sinh trong cõi địa ngục. Khi Đức Thế Tôn ngự đến tế độ và cho phép Ngài xuất gia trở thành Tỳ khưu. Tỳ khưu Aṅgulimāla thực hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt tất cả mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Arahán cao thượng. Đến khi hết tuổi thọ, Ngài đã tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Cho nên, tất cả mọi bất thiện nghiệp và thiện nghiệp mà Ngài đã tạo trong vô số kiếp quá khứ từ vô thủy cho đến kiếp hiện tại trước khi trở thành bậc Thánh Arahán, đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. Đó là Siêu tam giới thiện nghiệp có phận sự cắt đứt bất thiện nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. b) Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt thiện nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa như thế nào? Hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc từ đệ nhất thiền hữu sắc cho đến đệ ngũ thiền hữu sắc tột đỉnh của sắc giới. Nếu hành giả có khả năng giữ gìn 5 bậc thiền hữu sắc ấy cho đến chết, thì sau khi hành giả chết, chắc chắn đệ ngũ thiền hữu sắc đó là đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm sinh quả là đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh lên tầng trời sắc giới tột đỉnh. – Nếu hành giả là hạng phàm nhân, thì đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh trong cõi trời sắc giới phạm thiên cõi Quảng Quả Thiên (hoặc Vô Tưởng Thiên), có tuổi thọ 500 đại kiếp trái đất. – Nếu hành giả là bậc Thánh Bất Lai, thì đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh 1 trong 5 cõi Tịnh Cư Thiên có tuổi thọ từ 1000 đại kiếp trái đất đến 16.000 đại kiếp trái đất, tùy theo mỗi tầng trời thấp cao. Còn 4 bậc thiền hữu sắc bậc thấp đó là 4 sắc giới thiện nghiệp từ đệ nhất thiền sắc giới thiện nghiệp cho đến đệ tứ thiền sắc giới thiện nghiệp bị cắt đứt bởi đệ ngũ thiền sắc giới thiện nghiệp. Cho nên, đệ ngũ thiền sắc giới thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt 4 bậc thiền sắc giới thiện nghiệp bậc thấp vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. Hoặc hành giả thực hành thiền định sau khi đã chứng đắc 5 bậc thiền hữu sắc, rồi tiếp tục thực hành thiền định có khả năng chứng đắc 4 bậc thiền vô sắc. Sau khi hành giả chết, chỉ có bậc thiền phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền vô sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh trong cõi trời vô sắc giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên mà thôi, còn lại 5 bậc thiền hữu sắc và 3 bậc thiền vô sắc bậc thấp đều bị cắt đứt vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. Đó là thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt thiện nghiệp khác vĩnh viễn không còn có cơ hội sinh quả được nữa. c) Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt thiện nghiệp khác không còn có cơ hội sinh quả được nữa như thế nào? Người nào đã tạo dục giới đại thiện nghiệp, sắc giới thiện nghiệp (5 bậc thiền hữu sắc) và vô sắc giới thiện nghiệp (4 bậc thiền vô sắc). Về sau, người ấy bị phạm trọng tội thuộc vào 1 trong 5 ác nghiệp vô gián (pañcānantariya-kamma) là giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh Arahán, làm bầm máu bàn chân của Đức Phật và chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng. Sau khi người ấy chết, chắc chắn chỉ có ác nghiệp vô gián này có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi, chịu khổ do bị thiêu đốt trong cõi đại địa ngục suốt thời gian lâu dài trải qua nhiều kiếp trái đất. Còn các thiện nghiệp khác đều bị cắt đứt không có cơ hội sinh quả. Đó là bất thiện nghiệp (ác nghiệp) sát hại có phận sự cắt đứt mọi thiện nghiệp khác không còn có cơ hội sinh quả được nữa. 4. 2 Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác, cắt đứt một phần hoặc cắt đứt toàn phần, sát hại sinh mạng của chúng sinh ấy, có 4 trường hợp: a- Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp. b- Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp khác. c- Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp. d- Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp khác. Giải thích 4 trường hợp: a) Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp như thế nào? Ví dụ: Trường hợp nhóm ngạ quỷ đã từng là thân quyến của Đức vua Bimbisāra từ thời Đức Phật Phussa, thời gian cách Đức Phật Gotama 92 đại kiếp trái đất, trải qua 6 Đức Phật. Tiền kiếp của chúng trong thời kỳ Đức Phật Phussa, đã tạo ác nghiệp trộm cắp vật thực của chư Đại đức Tăng, tự mình ăn và cho con cái ăn. Sau khi họ chết, ác nghiệp trộm cắp ấy có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi địa ngục, từ cõi địa ngục lớn đến cõi địa ngục nhỏ, chịu quả khổ trải qua thời gian lâu dài nhiều đại kiếp trái đất. Đến lúc mãn quả của ác nghiệp trong cõi địa ngục nhỏ, song ác nghiệp ấy vẫn còn năng lực sinh quả tái sinh làm kiếp ngạ quỷ chịu cảnh đói khát khổ cực. Trong thời kỳ Đức Phật Kassapa xuất hiện trên thế gian, nhóm ngạ quỷ đến hầu đảnh lễ Đức Phật, bèn bạch rằng: – Kính bạch Đức Thế Tôn, đến khi nào mới có thân quyến làm phước bố thí, rồi hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho loài ngạ quỷ chúng con, để cho chúng con được thoát khỏi cảnh khổ đói khát, được an lạc? Bạch Ngài. Đức Phật Kassapa dạy rằng: – Này các ngạ quỷ, bây giờ các con chưa có được gì đâu! Các con ráng chờ đến thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian. Khi ấy sẽ có Đức vua Bimbisāra đã từng là thân quyến của các con cách đây 92 đại kiếp trái đất. Đức vua Bimbisāra sẽ làm phước thiện bố thí cúng dường đến Đức Phật Gotama cùng chư Đại đức Tăng, rồi sẽ hồi hướng phần phước thiện ấy cho các con. Nghe lời thọ ký của Đức Phật Kassapa, nhóm ngạ quỷ vô cùng hoan hỷ chờ đợi, mong ngóng, từ thời Đức Phật Kassapa cho đến thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, trải qua một thời kỳ lâu dài chờ đợi. Đến thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, Đức vua Bimbisāra ngự tại kinh thành Rājagaha trị vì xứ Magadha. Đức Phật Gotama cùng chư Tỳ khưu Tăng ngự đến kinh thành Rājagaha, thuyết pháp tế độ Đức vua cùng các quan trong triều và dân chúng trong kinh thành. Sau khi lắng nghe chánh pháp, Đức vua đã chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, phần đông các quan và dân chúng cũng chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu. Đức vua Bimbisāra có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, xây dựng ngôi chùa Veḷuvana xong, làm lễ dâng cúng dường đến chư Đại đức Tăng có Đức Phật chủ trì. Khi ấy, Đức vua quên hồi hướng phần phước thiện đến cho nhóm ngạ quỷ. Nhóm ngạ quỷ vô cùng thất vọng, đêm đến chúng hiện đến cung điện của Đức vua kêu la, khóc than thảm thiết phát ra những âm thanh đáng kinh sợ. Sáng ngày hôm sau, Đức vua ngự đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bèn bạch hỏi do nhân nào có âm thanh đáng kinh sợ như vậy. Đức Thế Tôn dạy: - “Này Đại vương, Đại vương không nên kinh sợ! Đó là tiếng kêu la than khóc của nhóm ngạ quỷ. Nhóm ngạ quỷ này đã từng là thân quyến của Đại vương trong kiếp quá khứ, chúng trông ngóng từ lâu, với hy vọng Đại vương làm phước thiện bố thí, rồi hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho chúng, để chúng thoát khỏi cảnh khổ kiếp ngạ quỷ. Nhưng Đại vương làm phước thiện bố thí xong, không hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho chúng. Do đó, chúng thất vọng hiện đến kêu la than khóc như vậy”. Lắng nghe Đức Thế Tôn dạy như vậy, Đức vua Bimbisāra bèn bạch rằng: - Kính bạch Đức Thế Tôn, ngày mai, con xin kính thỉnh Đức Thế Tôn cùng chư Đại đức Tăng ngự đến cung điện của con, để con làm phước thiện cúng dường một lần nữa. Lần này, con sẽ hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho nhóm ngạ quỷ thân quyến của con. Đức Thế Tôn nhận lời bằng cách im lặng. Đức vua Bimbisāra đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi xin phép trở về cung điện. Sáng hôm sau, Đức Thế Tôn cùng chư Đại đức Tăng ngự đến cung điện của Đức vua Bimbisāra. Chính Đức vua tự tay dâng cúng dường vật thực đến Đức Thế Tôn cùng chư Đại đức Tăng. Đức Thế Tôn thuyết bài kinh Tirokuḍḍapetavatthu tế độ nhóm ngạ quỷ, đồng thời Đức vua Bimbisāra hồi hướng phần phước thiện ấy đến nhóm ngạ quỷ thân quyến. Nhóm ngạ quỷ phát sinh thiện tâm hoan hỷ thọ hưởng phần phước thiện ấy. Ngay khi ấy, tất cả nhóm ngạ quỷ đều thoát khỏi kiếp ngạ quỷ đói khát, nhờ thiện nghiệp ấy sinh quả tái sinh làm chư thiên trên cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy. Đó là thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp. Chúng ta được sinh làm người mới có được cơ hội tốt làm phước thiện bố thí, còn các chúng sinh khác khó có cơ hội làm phước thiện bố thí như chúng ta. Cho nên, nếu chúng ta gặp được dịp may, có cơ hội tốt làm phước bố thí những nhu cầu gì đến cho người khác, thì chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội tốt ấy. Chúng ta nên nghĩ rằng: “Những vật nào mà ta đem ra làm phước thiện bố thí, những vật ấy mới thật sự trở thành phước thiện của ta. Những vật khác còn lại thuộc về của chung, thì không chắc là của riêng ta”. Khi ta đã làm phước thiện bố thí, không những ta được phước thiện mà ta còn có thể hồi hướng đến cho thân bằng quyến thuộc và tất cả chúng sinh khác đã quá vãng, họ cũng có thể thọ nhận được phần phước thiện ấy, rồi thoát khỏi cảnh khổ, đồng thời được hưởng sự an lạc lâu dài, như tái sinh làm người hoặc làm chư thiên trong cõi trời dục giới. Thật là hạnh phúc biết dường nào! Vì vậy, sau khi đã làm phước thiện nào rồi, chúng ta nên hồi hướng đến thân quyến của chúng ta bằng câu Pāḷi và tiếng Việt như sau:
“Idaṃ no ñātinaṃ hotu,
Chúng con xin thành tâm
hồi hướng, Hoặc hồi hướng đến tất cả chúng sinh như sau:
“Imaṃ puññabhāgaṃ
sabbasattānaṃ dema,
Chúng con xin thành tâm hồi hướng, Chúng sinh nào phát sinh thiện tâm hoan hỷ phần phước thiện thanh cao ấy, nếu chúng sinh ấy đang ở trong cõi khổ, thì sẽ được giải thoát khỏi cõi khổ ngay tức thì; nếu chúng sinh ấy đang ở trong cõi an lạc, thì sự an lạc càng được tăng trưởng. Đó là điều hạnh phúc cao thượng biết dường nào! b) Thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp khác như thế nào? Ví dụ: Người tại gia là cận sự nam hoặc cận sự nữ thực hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Arahán cao thượng. Sau đó, nếu bậc Thánh Arahán vẫn sống tại gia, thì bậc Thánh Arahán ấy chắc chắn sẽ tịch diệt Niết Bàn ngay trong ngày hôm ấy, không thể duy trì sinh mạng sang ngày hôm sau được. Bởi vì, Ân đức cao thượng của bậc Thánh Arahán, phạm hạnh cao thượng của bậc Thánh Arahán không thích hợp với đời sống của người tại gia. Cho nên, bậc Thánh Arahán ấy phải tịch diệt Niết Bàn ngay ngày hôm ấy. * Trong thời kỳ Đức Phật còn trên thế gian, trường hợp Đức vua Suddhodana (Phụ hoàng của Đức Phật) sau khi đã chứng đắc thành bậc Thánh Arahán, rồi tịch diệt Niết Bàn ngay ngày hôm ấy. * Trường hợp vị quan đại cận thần Santati trong triều đình của Đức vua Pasenadi Kosala, sau khi đã chứng đắc thành bậc Thánh Arahán, rồi đảnh lễ xin phép Đức Thế Tôn tịch diệt Niết Bàn ngay ngày hôm ấy. Đối với người tại gia, Arahán Thánh Đạo là Siêu tam giới thiện nghiệp có phận sự cắt đứt ngũ uẩn là quả của thiện nghiệp khác, gọi là Ngũ Uẩn Niết Bàn ngay trong ngày hôm ấy, không thể duy trì sinh mạng sang ngày hôm sau. Như vậy, người tại gia sau khi chứng đắc thành bậc Thánh Arahán, nếu bậc Thánh Arahán ấy cần duy trì sinh mạng cho đến hết tuổi thọ, thì bậc Thánh Arahán ấy phải xuất gia trở thành Tỳ khưu. * Nhưng trường hợp đặc biệt trong thời kỳ Đức Phật còn trên thế gian, trường hợp bà Khemā - chánh cung Hoàng hậu của Đức vua Bimbisāra, sau khi chứng đắc thành bậc Thánh Arahán, Đức vua Bimbisāra chấp thuận để cho bà được xuất gia. Bà Khemā được xuất gia trở thành Tỳ khưu ni, về sau Đức Phật tuyên dương Đại đức Tỳ khưu ni Khemā là bậc Thánh nữ Tối Thượng Thanh Văn xuất sắc nhất về trí tuệ trong hàng nữ Thanh Văn đệ tử của Đức Phật. Đó là thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp. c) Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp như thế nào? Con người sinh ra đời, có ngũ uẩn tốt đẹp, thân thể khoẻ mạnh, có đầy đủ ngũ quan tốt (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân)… Đó là quả của thiện nghiệp trong kiếp quá khứ. Người ấy tòng quân đi chiến đấu, giữa trận địa, hai bên giao chiến với nhau, người ấy chẳng may bị thương nặng gẫy chân, và các vết thương khác quá nặng nên bị tử trận (chết do bất thiện nghiệp trong kiếp hiện tại). Hoặc trường hợp người bị tai nạn làm cho gẫy chân hoặc gẫy tay, hoặc bị mù mắt, bị điếc gây thương tích trọn đời hoặc bị thương nặng rồi tử vong, hoặc bị lâm bệnh nặng gây ra bệnh mất trí cuồng điên cho đến chết (chết do bất thiện nghiệp trong kiếp quá khứ). Đó là bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp. d) Bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp khác như thế nào? Tất cả mọi loài súc sinh sinh ra trên trái đất này đều là quả của bất thiện nghiệp trong kiếp quá khứ. Nhưng có một số loài súc sinh gặp nhau cắn xé lẫn nhau, gây thương tích cho nhau, thậm chí còn cắn chết rồi ăn thịt nữa. (chết do bất thiện nghiệp trong kiếp hiện tại). Hoặc trường hợp, một số loài súc sinh bị tai nạn gây ra thương tích trọn đời, hoặc bị thương nặng rồi tử vong (chết do bất thiện nghiệp trong kiếp quá khứ). Đó là bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp khác. Nghiệp Sát Hại Cắt Đứt Ngũ Uẩn Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác có 3 trường hợp đặc biệt: a- Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác xong, rồi chính nghiệp ấy không sinh quả tái sinh kiếp sau và cũng không cho nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. b- Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác xong, rồi chính nghiệp ấy giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. c- Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác xong, rồi cho nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. Giải thích 3 trường hợp: a) Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác xong, rồi chính nghiệp ấy không sinh quả tái sinh kiếp sau, và cũng không cho nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau như thế nào? – Trường hợp hành giả thực hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán xong, đồng thời tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Arahán Thánh Đạo là Siêu tam giới thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn và đồng thời Ngũ uẩn Niết Bàn gọi là Jīvitasanrasīsi: Chứng đắc Arahán Thánh Quả xong, đồng thời Ngũ uẩn Niết Bàn ngay khi ấy. – Hoặc trường hợp Ngài Đại đức Mahāmoggallāna, Ngài bị bọn cướp đánh đập tan xương nát thịt đến gần chết. Chúng tưởng Ngài đã chết rồi, nên đem thi thể của Ngài bỏ vào bụi cây, rồi bỏ đi khỏi nơi ấy. Ngài Đại đức Mahāmoggallāna dùng thần thông kết nối xương thịt lại, rồi bay đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới. Tiền kiếp của Ngài Đại đức Mahāmogallāna đã từng tạo bất thiện nghiệp đánh đập cha mẹ Ngài đến chết trong kiếp quá khứ. Nay bất thiện nghiệp ấy trở thành bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn và đồng thời ngũ uẩn Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới. Đó là nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp khác xong, rồi chính nghiệp ấy không sinh quả tái sinh kiếp sau, và cũng không cho nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. (trường hợp bậc Thánh Arahán tịch diệt Niết Bàn gọi là Ngũ uẩn Niết Bàn). b) Nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác xong, rồi chính nghiệp ấy lại giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau như thế nào? – Trường hợp chúng sinh trong cõi địa ngục, bất thiện nghiệp sát hại nào có phận sự cắt đứt ngũ uẩn của chúng sinh trong cõi địa ngục xong, rồi chính bất thiện nghiệp ấy lại giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau cũng trong cõi địa ngục ấy. Bởi vì, chúng sinh trong cõi địa ngục thuộc về loài hóa sinh, cho nên khi chúng sinh ấy bị hành hạ đến chết, rồi lại hóa sinh trở lại, cứ tiếp tục tử rồi sinh, sinh rồi tử trong cõi địa ngục cho đến khi mãn quả của bất thiện nghiệp ấy mới thoát ra khỏi địa ngục, rồi được tái sinh trong cõi khác tùy theo nghiệp của chúng sinh ấy. Đó là bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của bất thiện nghiệp khác, rồi chính bất thiện nghiệp ấy lại giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. – Trường hợp chư thiên trong cõi trời dục giới cũng thuộc về loài hóa sinh, đến khi hết tuổi thọ của cõi trời dục giới ấy, nếu thiện nghiệp ấy còn có nhiều năng lực, thì thiện nghiệp ấy lại có cơ hội sinh quả tái sinh trở lại cõi trời cũ, hoặc cõi trời thấp hơn, hoặc cõi trời cao hơn cõi trời cũ, tùy theo năng lực của thiện nghiệp ấy. – Hoặc trường hợp ông phú hộ Anāthapiṇdika là bậc Thánh Nhập Lưu. Sau khi ông chết, thiện nghiệp có cơ hội sinh quả tái sinh lên cõi trời Tusita (Đấu Xuất Đà Thiên) có tuổi thọ 4.000 (bốn ngàn) năm trời (bằng 576 triệu năm cõi người). Khi hết tuổi thọ ở cõi trời Tusita, sau khi vị thiên nam Anāthapiṇdika chết, chính thiện nghiệp ấy giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau lên cõi trời cao Nimmānaratī có tuổi thọ 8.000 (tám ngàn) năm trời (bằng 2.304 triệu năm cõi người). Khi hết tuổi thọ ở cõi trời Nimmānaratī, sau khi vị thiên nam Anāthapiṇdika chết, chính thiện nghiệp ấy giành cơ hội sinh tái sinh kiếp sau lên cõi trời cao Paranimmitavasavatti có tuổi thọ 16.000 (mười sáu ngàn) năm trời (bằng 9.216 triệu năm cõi người). Khi hết tuổi thọ ở cõi trời Paranimmitavasavatti, sau khi vị thiên nam Anāthapiṇdika chết, sắc giới thiện nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau lên cõi trời sắc giới phạm thiên. Và cứ như vậy, từ cõi trời sắc giới tầng thấp cho đến tầng cao tột đỉnh của cõi trời sắc giới là cõi Akaniṭṭhā có tuổi thọ 16.000 đại kiếp trái đất. Vị Phạm thiên Anāthapiṇdika sẽ trở thành bậc Thánh Arahán, rồi tịch diệt Niết Bàn tại cõi trời ấy, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới. – Tương tự như ông phú hộ Anāthapiṇdika, có bà đại thí chủ Visākhā Mahā upāsikā là bậc Thánh Nhập Lưu. Sau khi bà chết tại cõi trời thấp, thiện nghiệp sinh quả tái sinh kiếp sau lên các cõi trời dục giới và các cõi trời sắc giới tột đỉnh, sẽ trở thành bậc Thánh Arahán, rồi sẽ tịch diệt Niết Bàn tại cõi trời ấy, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới. Đó là trường hợp đặc biệt của ông phú hộ Anāthapiṇḍika và bà đại thí chủ Visākhā Mahā upasikā đã từng phát nguyện. Đó là thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác, rồi chính thiện nghiệp ấy lại giành cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. c) Nghiệp sát hại có phận sự cắt dứt ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của thiện nghiệp khác xong, rồi cho nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau như thế nào? Trong thời quá khứ, tiền kiếp của Đức vua Bimbisāra đã từng mang dép đi vào trong khuôn viên xung quanh ngôi Bảo Tháp hoặc khuôn viên xung quanh cội Đại Bồ Đề. Nay kiếp hiện tại được sinh làm Đức vua Bimbisāra là quả của thiện nghiệp. Nhưng do năng lực của bất thiện nghiệp mang dép đi vào khuôn viên xung quanh ngôi Bảo Tháp, cội Đại Bồ Đề sinh quả, khiến cho Đức vua Ajātasattu truyền lệnh cho người thợ cạo lấy dao rạch hai bàn chân, thoa dầu, hơ lửa hai bàn chân làm cho Đức vua Bimbisāra băng hà. Nhưng sau khi Đức vua băng hà, do thiện nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau trong cõi trời Tứ Đại Thiên Vương. Đó là bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn là quả của thiện nghiệp xong, rồi cho thiện nghiệp khác có cơ hội sinh quả tái sinh kiếp sau. Tóm lược 4 loại nghiệp phân loại theo phận sự 1- Nghiệp sinh quả (janakakamma) gồm có thiện nghiệp, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) có phận sự sinh quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau (paṭisandhikāla) và sinh quả trong thời kỳ sau khi đã tái sinh, kiếp hiện hữu (pavattikāla) cho đến cuối cùng của kiếp ấy. Như vậy, nghiệp sinh quả là nghiệp cho quả từ đầu đến cuối cùng của một kiếp chúng sinh. 2- Nghiệp hỗ trợ (upathambhakakamma) gồm có thiện nghiệp, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) có phận sự hỗ trợ cho nghiệp nào chưa có cơ hội sinh quả, giúp cho nghiệp ấy có cơ hội sinh quả; nếu nghiệp nào đã có cơ hội sinh quả rồi, thì nghiệp hỗ trợ này hỗ trợ cho nghiệp ấy được phát triển đầy đủ. Nghiệp hỗ trợ giúp cho ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp được phát triển và duy trì để tồn tại theo tuổi thọ của kiếp chúng sinh ấy. 3- Nghiệp hãm hại (upapīḷakakamma) gồm có thiện nghiệp, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) có phận sự hãm hại nghiệp đối nghịch khác không cho có cơ hội sinh quả; hoặc làm cho suy yếu tiềm năng sinh quả của nghiệp đối nghịch khác; hoặc làm biến đổi ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp đối nghịch khác. 4- Nghiệp sát hại (upaghāṭakakamma) gồm có thiện nghiệp, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) có phận sự sát hại nghiệp khác vĩnh viễn không có cơ hội sinh quả; hoặc sát hại một phần ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp; hoặc sát hại toàn phần ngũ uẩn, danh pháp sắc pháp là quả của nghiệp khác (sát hại sinh mạng). Tất cả mọi chúng sinh nói chung, con người nói riêng đều phải chịu sự chi phối của nghiệp sinh quả trong thời kỳ tái sinh, bắt đầu một kiếp hiện tại, rồi còn phải chịu ảnh hưởng quả của nghiệp trong thời kỳ sau khi đã tái sinh, kiếp hiện hữu (pavattikāla) cho đến lúc chết. Do đó, kiếp hiện tại là một phần quả của các thiện nghiệp và ác nghiệp trong những kiếp quá khứ, và cũng có một phần quả của các thiện nghiệp và ác nghiệp trong kiếp hiện tại. I- Pākadānapariyāyacatukka: 4 Loại Nghiệp Theo Tuần Tự Cho Quả Nhất Định Phần 4 loại nghiệp phân loại theo phận sự xong, tiếp theo phần 4 loại nghiệp phân loại theo tuần tự cho quả nhất định trước sau như sau: 4 loại nghiệp ấy như thế nào? 1- Garukakamma: Nghiệp trọng yếu, loại nghiệp nặng là nghiệp nặng nhất có quyền ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trước tiên, không có nghiệp nào có thể ngăn cản được. Nếu không có nghiệp trọng yếu này, thì kế tiếp nghiệp cận tử (āsannakamma) cho quả tái sinh kiếp sau. 2- Āsannakamma: Loại nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh lúc lâm chung. Nếu không có nghiệp trọng yếu, thì nghiệp cận tử này có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì kế tiếp nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) cho quả tái sinh kiếp sau. 3- Āciṇṇakamma: Loại nghiệp thường hành là nghiệp thường được hành hằng ngày đêm đã trở thành thói quen. Nếu không có nghiệp trọng yếu và nghiệp cận tử, thì nghiệp thường hành này có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau. Nếu không có cả 3 loại nghiệp trên (nghiệp trọng nhẹ, nghiệp cận tử và nghiệp thường hành), thì kế tiếp nghiệp loại thường (kaṭattākamma) cho quả tái sinh kiếp sau. 4- Kaṭattākamma: Loại nghiệp loại thường là nghiệp yếu hơn 3 loại nghiệp trên, nghiệp đã được tạo trong kiếp hiện tại, hoặc nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau. 4 loại nghiệp cho quả tái sinh kiếp sau theo tuần tự nhất định. Trong mỗi loại nghiệp, nghiệp nào có nhiều năng lực nhất, thì nghiệp ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau. Giải thích 4 loại nghiệp theo tuần tự cho quả 1- Garukakamma: Nghiệp Trọng Yếu Thế nào gọi là nghiệp trọng yếu? Loại nghiệp nào có nhiều năng lực nhất, chắc chắn có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau kế tiếp, mà không có nghiệp nào có thể ngăn cản được, loại nghiệp ấy gọi là nghiệp trọng yếu; đó là tác ý tâm sở đồng sinh với tâm tham hợp với tà kiến trực tiếp tạo ác nghiệp tà kiến cố định (niyatamicchādiṭṭhikamma), tác ý tâm sở đồng sinh với tâm sân trực tiếp tạo 5 ác nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma), và tác ý tâm sở đồng sinh với 5 sắc giới thiện tâm, 4 vô sắc giới thiện tâm. Các loại nghiệp này gọi là loại nghiệp nặng, nghiệp trọng yếu. * Nghiệp trọng yếu (garukakamma) có 2 loại: 1. 1 Ác nghiệp trọng tội (akusala garukakamma) có 2 loại: Ác nghiệp tà kiến cố định (niyatamicchādiṭṭhikamma) và 5 ác nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma) . 1. 2 Thiện nghiệp trọng yếu (kusala garukakamma) có 2 loại: 4 vô sắc giới thiện nghiệp và 5 sắc giới thiện nghiệp. 1. 1 Ác Nghiệp Trọng Tội Ác nghiệp trọng tội có 2 loại: a- Ác nghiệp tà kiến cố định (niyatamicchādiṭṭhikamma). b- 5 ác nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma). a) Ác nghiệp tà kiến cố định có 3 loại: - Natthikadiṭṭhi: Vô quả tà kiến. - Ahetukadiṭṭhi: Vô nhân tà kiến. - Akiriyādiṭṭhi: Vô hành tà kiến. * Vô quả tà kiến nghĩa là tà kiến thấy sai, chấp lầm cho rằng: “Không có quả của ác nghiệp, không có quả của thiện nghiệp. Người đã có tác ý tạo ác nghiệp xong, rồi không có quả khổ của ác nghiệp, không cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Hoặc người đã có tác ý tạo thiện nghiệp xong, rồi cũng không có quả an lạc của thiện nghiệp, không cho quả tái sinh trong cõi thiện giới (cõi người, các cõi trời dục giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới), chết rồi là hết, không tái sinh kiếp sau trong cõi nào cả”. Tà kiến này còn gọi là đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) chết rồi là hết, không có tái sinh kiếp sau trong cõi nào cả. Người có vô quả tà kiến này là người phủ nhận quả của ác nghiệp, quả của thiện nghiệp, cũng có nghĩa là phủ nhận nhân ác nghiệp, nhân thiện nghiệp. * Vô nhân tà kiến nghĩa là tà kiến thấy sai, chấp lầm rằng: “Chúng sinh đang chịu mọi cảnh khổ, hoặc đang hưởng mọi sự an lạc. Đó là điều tự nhiên, không phải do từ nhân nào, duyên nào nghĩa là không do từ ác nghiệp hoặc thiện nghiệp nào cả”. Người có vô nhân tà kiến này là người phủ nhận nhân là ác nghiệp, nhân là thiện nghiệp, cũng có nghĩa là phủ nhận quả của ác nghiệp, quả của thiện nghiệp. * Vô hành tà kiến nghĩa là tà kiến thấy sai, chấp lầm rằng: “Mọi hành động ác do thân, khẩu, ý không tạo nên ác nghiệp; và mọi hành động thiện do thân, khẩu, ý cũng không tạo nên thiện nghiệp”. Ví như tự mình sát sinh, hoặc sai khiến người khác sát sinh; tự mình trộm cắp, hoặc sai khiến người khác trộm cắp... đều không tạo nên ác nghiệp. Cũng như vậy, tự mình bố thí, giữ giới trong sạch, hành thiền... không tạo nên thiện nghiệp. Làm tội không có tội, làm phước không có phước. Người có vô hành tà kiến này là người phủ nhận nhân là ác nghiệp, nhân là thiện nghiệp và phủ nhận quả của ác nghiệp, quả của thiện nghiệp. Như vậy, vô nhân tà kiến, vô quả tà kiến, vô hành tà kiến gọi là ác nghiệp tà kiến cố định. Người nào có ác nghiệp tà kiến cố định này, sau khi người ấy chết, chắc chắn chỉ có ác nghiệp tà kiến cố định mới có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi, phải chịu khổ trong cõi địa ngục này suốt thời gian lâu dài trải qua vô số đại kiếp trái đất, khó thoát ra khỏi cõi địa ngục ấy. 2 Hạng Người Có Tà Kiến Cố Định 1- Hạng người có tà kiến cố định sống biết tuân thủ theo pháp luật nhà nước. Tuy họ không tin nghiệp và quả của nghiệp, song họ biết sợ vi phạm pháp luật, cho nên, họ có thể hành động mọi việc ác mà không phạm pháp. Ví như: Họ xin phép nhà nước mở lò giết gia súc, giết gia cầm để bán thịt; xin phép làm xưởng đúc súng, đúc đạn để giết người, v.v... 2- Những hạng người có tà kiến cố định sống phạm pháp như lập bè, lập đảng đi cướp của giết người; chúng có thể hành động bất cứ mọi việc ác mà không biết sợ tội lỗi. 2 hạng người này có tà kiến cố định không tin nghiệp và quả của nghiệp, cho nên họ thường hành việc ác hơn là việc thiện. Khi họ đã tạo nên bất thiện nghiệp (ác nghiệp) dù tội nặng đến đâu đi nữa, họ cũng không bao giờ biết ăn năn hối lỗi, không từ bỏ điều ác, không làm điều thiện; không từ bỏ điều tà, không làm điều chánh.... Do đó, ác nghiệp tà kiến cố định là trọng tội, không có tội lỗi nào sánh được. b) 5 ác nghiệp vô gián là: - Ác nghiệp giết cha. - Ác nghiệp giết mẹ. - Ác nghiệp giết bậc Thánh Arahán. - Ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật. - Ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng. 5 ác nghiệp này gọi là ác nghiệp vô gián, bởi vì người nào tạo 1 trong 5 ác nghiệp này, sau khi người ấy chết, chắc chắn chỉ có ác nghiệp này mới có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp sau kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi; không có nghiệp nào khác có thể ngăn cản được. Nghĩa là kiếp hiện tại chết, ác nghiệp này liền sinh quả tái sinh kiếp kế tiếp ngay, không có gián đoạn. Do đó, ác nghiệp này gọi là ác nghiệp vô gián. Tính Chất Của 5 Ác Nghiệp Vô Gián Giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh Arahán, làm bầm máu bàn chân của Đức Phật, chia rẽ Tỳ khưu Tăng đó là ác nghiệp vô gián. Người phạm 1 trong 5 ác nghiệp vô gián này, sau khi người ấy chết, chắc chắn chỉ có ác nghiệp vô gián ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi. Do đó ác nghiệp này, gọi là ác nghiệp vô gián (pañcānantariyakamma). Người phạm ác nghiệp vô gián không hẳn là người có tà kiến cố định, mà chỉ là người hành động do năng lực của tâm sân, chắc chắn có tâm si trong khi hành ác nghiệp vô gián ấy. Vốn không phải là người có ác nghiệp tà kiến cố định, cho nên, sau khi đã phạm ác nghiệp vô gián xong, rồi người ấy biết ăn năn hối lỗi, biết sám hối tội lỗi của mình đã phạm, từ đó, người ấy từ bỏ mọi ác nghiệp, cố gắng tạo một số thiện nghiệp, nhưng chỉ có thể tạo được dục giới đại thiện nghiệp mà thôi, chắc chắn không thể tạo được sắc giới thiện nghiệp, vô sắc giới thiện nghiệp, và Siêu tam giới thiện nghiệp, không thể chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả nào cả. Bởi vì, ác nghiệp vô gián có khả năng đặc biệt ngăn cản mọi thiện nghiệp ấy. Sau khi người ấy chết, chắc chắn chỉ có ác nghiệp vô gián có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi. Trường hợp sau khi tạo ác nghiệp vô gián, người ấy đã phát sinh thiện tâm biết ăn năn hối lỗi, biết sám hối tội lỗi của mình, đã từ bỏ mọi ác nghiệp, cố gắng tạo những dục giới đại thiện nghiệp. Tuy không thể tránh khỏi tái sinh trong cõi đại địa ngục, do bởi ác nghiệp vô gián, nhưng đến khi mãn hạn quả của ác nghiệp vô gián ấy, được thoát ra khỏi cõi địa ngục, do nhờ thiện nghiệp cho quả tái sinh trở lại làm người, người ấy có thể tạo được mọi thiện nghiệp mà không có nghiệp nào ngăn cản được nữa. * Như trường hợp Tỳ khưu Devadatta đã từng tạo ác nghiệp vô gián, đó là ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng và ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật. Khi bị lâm bệnh nặng, trước lúc chết Tỳ khưu Devadatta nằm trên giường, bảo nhóm đệ tử khiêng Tỳ khưu đến ngôi chùa Jetavana để hầu đảnh lễ sám hối Đức Phật, và kính xin nương nhờ nơi Đức Phật. Đến gần ngôi chùa Jetavana, nhóm đệ tử đặt cái giường xuống nghỉ cạnh cái hồ để tắm rửa Tỳ khưu Devadatta cho sạch sẽ trước khi đến hầu đảnh lễ Đức Phật. Tỳ khưu Devadatta vừa bước xuống giường, đôi bàn chân vừa chạm mặt đất, ngay khi ấy mặt đất nứt ra làm đôi, rồi hút Tỳ khưu Devadatta vào trong lòng đất. Tỳ khưu Devadatta liền chắp hai tay đưa lên quá đầu xin sám hối Đức Thế Tôn, và kính xin nương nhờ nơi Đức Thế Tôn. Sau khi Tỳ khưu Devadatta chết, chính ác nghiệp vô gián chia rẽ Tỳ khưu Tăng ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu hành hạ thiêu đốt suốt 100 ngàn đại kiếp trái đất. Đức Phật thọ ký xác định thời gian rằng: “Từ kiếp trái đất này rồi trải qua 100 ngàn đại kiếp trái đất nữa, hậu kiếp của Tỳ khưu Devadatta sẽ trở thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu Đức Phật Độc Giác Aṭṭhissara” [9] . * Trường hợp Đức vua Ajātasattu đã nghe lời khuyên dụ của Tỳ khưu Devadatta, Đức vua đã giết Phụ hoàng Bimbisāra. Khi nghe tin Tỳ khưu Devadatta bị hút sâu vào trong lòng đất, Đức vua Ajātasattu phát sinh tâm hoảng sợ, biết ăn năn hối lỗi. Đức vua ngự đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, rồi xin sám hối nơi Đức Thế Tôn về tội giết Vua cha của mình. Đức Thế Tôn chứng minh lời sám hối của Đức vua xong, Ngài thuyết pháp tế độ Đức vua. Nếu Đức vua Ajātasattu không phạm ác nghiệp vô gián giết cha, thì ngay tại nơi ấy, Đức vua có thể chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu. Nhưng Đức vua đã phạm ác nghiệp vô gián giết cha, cho nên không thể chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu. Đức vua kính xin thọ phép quy y Tam Bảo trở thành người cận sự nam trong giáo pháp của Đức Phật. Từ đó về sau, Đức vua Ajātasattu có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hết lòng phụng sự cúng dường Tam Bảo. Thật vậy, Đức vua Ajātasattu đã hộ độ 500 vị Thánh Arahán có Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa chủ trì trong kỳ kết tập Tam Tạng và Chú giải lần thứ nhất tại động Satta-paṇṇi gần kinh thành Rājagaha, sau khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn khoảng 3 tháng 4 ngày, suốt 7 tháng mới hoàn thành trọn bộ Tam Tạng và Chú giải. Đức vua Ajātasattu có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hộ độ chư Tỳ khưu Tăng cho đến trọn đời. Sau khi Đức vua Ajātasattu băng hà, lẽ ra ác nghiệp vô gián (giết cha) cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu khổ do bị thiêu đốt suốt nhiều đại kiếp trái đất, nhưng Đức vua đã biết ăn năn hối lỗi, ngự đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin sám hối những tội lỗi của mình; đặc biệt kính xin thọ phép quy y Tam Bảo. Từ đó về sau, Đức vua có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tạo mọi phước thiện hộ trì Tam Bảo cho đến trọn đời. Chính nhờ mọi thiện nghiệp ấy làm giảm bớt tiềm năng cho quả tái sinh của ác nghiệp vô gián (giết cha), thay vì phải tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, thì tái sinh kiếp kế tiếp trong địa ngục nhỏ nồi đồng sôi Lohakumbhī, chịu khổ trong địa ngục nhỏ nồi đồng sôi suốt 60.000 năm. Đức Phật dạy rằng: “Sau khi Đức vua Ajātasattu băng hà, ác nghiệp vô gián (giết cha) cho quả tái sinh trong địa ngục nồi đồng sôi từ miệng nồi chìm xuống đến đáy nồi suốt 30.000 năm, rồi từ đáy nồi nổi lên đến miệng nồi suốt 30.000 năm, mới mãn quả của ác nghiệp vô gián ấy. Do nhờ thiện nghiệp cho quả tái sinh trở lại làm người, hậu kiếp của Đức vua Ajātasattu xuất gia sẽ trở thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu: Đức Phật Độc Giác Vijitāvī”. Như vậy, ác nghiệp vô gián tuy là trọng tội chắc chắn sẽ cho quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci, mà không có nghiệp nào có khả năng ngăn cản được, nhưng còn có thời gian mãn hạn quả của ác nghiệp vô gián ấy, rồi thiện nghiệp khác cho quả tái sinh làm người, mọi thiện nghiệp lại có thể phát triển không có gì làm trở ngại. Còn ác nghiệp tà kiến cố định cũng chắc chắn sẽ cho quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci, nhưng khó có thời gian mãn hạn quả của ác nghiệp tà kiến cố định ấy. Do đó, ác nghiệp tà kiến cố định nặng hơn 5 ác nghiệp vô gián. Thật vậy, trường hợp tiền kiếp của Ngài Đại đức Mahā-moggallāna là người con trai duy nhất chí hiếu đối với cha mẹ bị mù đôi mắt. Hằng ngày, sáng sớm người con lo cơm nước cho cha mẹ ăn, giặt giũ quần áo,... xong mọi công việc trong nhà, rồi mới đi ra ngoài lo công việc đồng áng. Chiều về, người con lo tắm rửa cho cha mẹ,... Cha mẹ thấy con vất vả như vậy, nên muốn tìm cho con một người vợ để lo giúp đỡ công việc trong nhà, nhưng người con trai một mực từ chối. Cha mẹ cứ khuyên dạy như vậy nhiều lần, nếu không vâng lời cha mẹ, thì sợ cha mẹ sẽ buồn, cho nên bất đắc dĩ, người con phải chịu lấy vợ cho cha mẹ vui. Người vợ lo phục vụ cho cha mẹ chồng được một thời gian ngắn, sau đó, nàng bịa đặt chuyện nói xấu cha mẹ chồng. Người vợ than vãn với người chồng rằng: – Em chịu đựng không nổi với cha mẹ anh. Em không thể sống chung cùng với cha mẹ của anh được nữa.... Mặc dù người chồng khuyên lơn, năn nỉ vợ, nhưng người vợ vẫn khăng khăng cự tuyệt không chịu sống chung với cha mẹ của mình. Đế chiều theo ý vợ, người con thưa với cha mẹ rằng: – Thưa cha mẹ, từ lâu rồi, cha mẹ chưa đi thăm người bà con ở xóm bên kia, xin cha mẹ lên ngồi trên chiếc xe bò, con sẽ đưa cha mẹ đến thăm người bà con ấy. Hai ông bà mù tin lời của người con lên xe, người con đưa cha mẹ đến khu rừng, rồi thưa với cha mẹ rằng: – Thưa cha mẹ, khoảng khu rừng này thường có nhiều bọn cướp đón đường cướp của giết người, xin cha mẹ ngồi trên xe để con xuống đi thăm dò đường. Người con xuống xe, một lát sau quay trở lại giả làm bọn cướp đến đánh đập cha mẹ già mù đến chết, rồi bỏ xác ở trong rừng. Người con phạm ác nghiệp vô gián giết cha, giết mẹ. Sau khi người con chết, ác nghiệp vô gián giết cha, giết mẹ ấy cho quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ bị thiêu đốt suốt nhiều đại kiếp trái đất trong địa ngục ấy. Đến thời gian mãn quả của ác nghiệp vô gián ấy, do nhờ thiện nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ cho quả tái sinh trở lại làm người. Người ấy đã tạo mọi thiện nghiệp nhất là 10 pháp hạnh ba-la-mật, cho nên hậu kiếp của người con trai giết cha, giết mẹ trong kiếp quá khứ ấy, nay là tu sĩ ngoại đạo Kolita, sau đó xuất gia trở thành Tỳ khưu trong giáo pháp của Đức Phật Gotama, có tên gọi theo dòng dõi là Ngài Đại đức Mahāmoggallāna. Ngài thực hành thiền tuệ, chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán cùng với Tứ tuệ phân tích, đặc biệt chứng đắc Lục thông. Đức Phật tuyên dương: “Ngài Đại đức Mahāmoggallāna là bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn của Đức Phật xuất sắc nhất về thần thông trong hàng Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật”. Nhận xét về tích Tỳ khưu Devadatta và tích Đức vua Ajātasattu Tỳ khưu Devadatta và Đức vua Ajātasattu đều đã tạo ác nghiệp vô gián giống nhau, nhưng sau khi mỗi người chết, do nhân nào mà ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp nhưng trong cõi địa ngục khác nhau? * Tỳ khưu Devadatta Tỳ khưu Devadatta đã tạo 2 ác nghiệp vô gián: Ác nghiệp vô gián chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng và ác nghiệp vô gián làm bầm máu bàn chân của Đức Phật. Đó là 2 loại ác nghiệp vô gián nặng thứ nhất và thứ nhì. Đến khi bị lâm bệnh nặng gần chết, Tỳ khưu Devadatta mới biết ăn năn hối lỗi, muốn đến hầu Đức Thế Tôn, thành tâm sám hối tội lỗi của mình trước khi chết. Tỳ khưu Devadatta nằm trên chiếc giường, nhờ nhóm đệ tử khiêng đến ngôi chùa Jetavana. Nhóm đệ tử đặt chiếc giường xuống gần hồ nước để tắm rửa Tỳ khưu Devadatta cho sạch sẽ trước khi vào hầu Đức Thế Tôn. Tỳ khưu Devadatta vừa đặt hai bàn chân xuống mặt đất, thì mặt đất nứt ra làm 2 phun ngọn lửa lên hút Tỳ khưu Devadatta vào trong lòng đất. Khi ấy, Tỳ khưu Devadatta còn kịp thốt lên một bài kệ rằng:
“Imehi aṭṭhīhi
tamaggapuggalaṃ,
Phút cuối cùng con hết
lòng thành kính, Thốt xong bài kệ tán dương Đức Phật với tấm lòng tôn kính sâu sắc và xin quy y nương nhờ nơi Đức Phật xong, cùng lúc ấy Tỳ khưu Devadatta bị hút sâu vào lòng đất. Do nhờ thiện tâm trong sạch xin quy y nương nhờ nơi Đức Phật trong lúc lâm chung ấy, tuy ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ suốt thời gian lâu 100 ngàn đại kiếp trái đất, nhưng sau khi mãn hạn quả của ác nghiệp vô gián ấy; trong thời vị lai, nhờ thiện nghiệp ba-la-mật đã từng tích lũy trải qua 2 a-tăng-kỳ và 100 ngàn đại kiếp trong những kiếp quá khứ sẽ làm phận sự tái sinh làm người, sẽ chứng đắc thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu là “Đức Phật Độc Giác Aṭṭhissara” rồi tịch diệt Niết Bàn (Đức Phật Gotama thọ ký). * Đức vua Ajātasattu Trong 5 ác nghiệp vô gián, Đức vua Ajātasattu đã tạo ác nghiệp vô gián giết Phụ hoàng (Đức vua Bimbisāra là bậc Thánh Nhập Lưu), đó là ác nghiệp vô gián nặng thứ năm. Khi nghe tin Tỳ khưu Devadatta bị đất hút chết, Đức vua Ajātasattu kinh hãi vô cùng, biết ăn năn hối lỗi, ngự đến hầu đảnh lễ Đức Phật, xin thành tâm sám hối những tội lỗi lớn lao của mình. Đức Phật chứng minh, rồi Ngài thuyết pháp tế độ Đức vua Ajātasattu. Nhưng vì ác nghiệp vô gián ngăn cản, nên Đức vua không thể chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu, mà chỉ phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, Đức vua xin thọ phép quy y Tam Bảo trở thành người cận sự nam trong giáo pháp của Đức Phật, phụng sự hộ trì Tam Bảo cho đến trọn đời. Đức vua Ajātasattu đã hộ độ 500 vị Thánh Arahán trong kỳ kết tập Tam Tạng và Chú giải lần thứ nhất, sau khi Đức Phật tịch diệt Niết Bàn, do Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa chủ trì, tại động Sattapaṇṇi gần kinh thành Rājagaha xứ Magadha, suốt 7 tháng mới hoàn thành xong trọn bộ Tam Tạng và Chú giải. Đó là phần phước thiện thanh cao của Đức vua. Đức vua Ajātasattu là người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, hết lòng phụng sự hộ độ Tam Bảo cho đến trọn đời. Sau khi Đức vua Ajātasattu băng hà, đáng lẽ ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, nhưng nhờ thiện nghiệp làm giảm bớt tiềm năng cho quả của ác nghiệp vô gián ấy, nên cho quả tái sinh trong cõi địa ngục có tên là Lohakumbhī (địa ngục nồi đồng sôi), phải chịu quả khổ trong khoảng thời gian 60.000 năm. Sau khi mãn quả của ác nghiệp vô gián ấy, do nhờ thiện nghiệp ba-la-mật đã tích lũy từ vô số kiếp quá khứ, cho quả tái sinh lại làm người. Hậu kiếp của Đức vua Ajātasattu sẽ xuất gia, trở thành Đức Phật Độc Giác có danh hiệu là Đức Phật Độc Giác Vijitāvī rồi tịch diệt Niết Bàn. Như vậy, Tỳ khưu Devadatta và Đức vua Ajātasattu cùng tạo ác nghiệp vô gián, nhưng tính chất ác nghiệp vô gián của mỗi người khác nhau, và thời gian biết ăn năn hối lỗi, sám hối tội lỗi khác nhau, cho nên ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi địa ngục khác nhau. Điều chúng ta nên suy ngẫm về Tỳ khưu Devadatta và Đức vua Ajātasattu, hai vị vốn là người đã từng tích lũy 20 pháp hạnh ba-la-mật từ vô số kiếp quá khứ. Ngay kiếp hiện tại, từ khi tái sinh Tỳ khưu Devadatta là hạng người có tam nhân (vô tham, vô sân, vô si (trí tuệ)), bởi vì Tỳ khưu Devadatta đã chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, (bậc thiền vô sắc), chứng đắc thần thông. Đức vua Ajātasattu vốn là hạng người có tam nhân (vô tham, vô sân, vô si (trí tuệ)) có khả năng chứng đắc thành bậc Thánh Nhân trong kiếp hiện tại, nhưng cũng không chứng đắc thành bậc Thánh Nhân, bởi vì Đức vua đã tạo ác nghiệp vô gián làm ngăn cản Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn. Những người vốn có trí tuệ như vậy, nhưng họ vẫn bị phiền não chi phối, sai khiến tạo ác nghiệp như vậy. Tỳ khưu Devadatta và Đức vua Ajātasattu sau khi chết, ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi địa ngục. Trong thời gian này, tuy họ vẫn còn phải chịu quả khổ trong cõi địa ngục, nhưng họ đã được Đức Phật thọ ký xác định thời gian còn lại hậu kiếp của họ trong kiếp vị lai, sẽ trở thành Đức Phật Độc Giác rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài. Đó là điều chắc chắn. Còn những hạng phàm nhân như mỗi người trong chúng ta, trong vòng tử sinh luân hồi từ vô thủy không biết, và kiếp cuối cùng cũng chưa biết được. Vậy có ai dám chắc rằng: “Mình sẽ là người không có ác nghiệp tà kiến cố định, hoặc không tạo ác nghiệp vô gián trong những kiếp vị lai hay không??? Đó là điều nên suy ngẫm! Vấn: Nếu một người có ác nghiệp tà kiến cố định và đã tạo đủ 5 ác nghiệp vô gián, thì ác nghiệp nào sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci? Đáp: Nếu một người có ác nghiệp tà kiến cố định và đã tạo đủ 5 ác nghiệp vô gián, thì chỉ có ác nghiệp tà kiến cố định mới có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi. Bởi vì, ác nghiệp tà kiến cố định nặng hơn 5 ác nghiệp vô gián. Tuy 5 ác nghiệp vô gián không có cơ hội cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, nhưng 5 ác nghiệp vô gián trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp tà kiến cố định nặng thêm gấp bội phần. Vấn: Nếu một người đã phạm đủ 5 ác nghiệp vô gián, thì ác nghiệp nào sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci? Đáp: Nếu một người đã phạm đủ 5 ác nghiệp vô gián, thì chắc chắn ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn lại 4 ác nghiệp vô gián trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng càng nặng thêm. * Trường hợp phạm 4 ác nghiệp vô gián: Làm bầm máu bàn chân của Đức Phật, giết bậc Thánh Arahán, giết mẹ, giết cha, thì chắc chắn ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn lại 3 ác nghiệp vô gián trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp làm bầm máu bàn chân của Đức Phật càng nặng thêm. * Trường hợp phạm 3 ác nghiệp vô gián: Giết bậc Thánh Arahán, giết mẹ, giết cha, thì chắc chắn ác nghiệp giết bậc Thánh Arahán sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn lại 2 ác nghiệp vô gián trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp giết bậc Thánh Arahán càng nặng thêm. * Trường hợp phạm 2 ác nghiệp vô gián: Giết mẹ, giết cha. - Nếu người mẹ có giới đức, còn người cha không có giới đức, thì chắc chắn ác nghiệp giết mẹ sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn ác nghiệp vô gián giết cha trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp giết mẹ càng nặng thêm. - Nếu người cha có giới đức, còn người mẹ không có giới đức, thì chắc chắn ác nghiệp giết cha sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn ác nghiệp vô gián giết mẹ trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp giết cha càng nặng thêm. - Nếu cả người cha lẫn người mẹ đều có giới đức, hoặc cả người cha lẫn người mẹ đều không có giới đức, thì ác nghiệp vô gián giết mẹ sẽ có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci. Còn ác nghiệp vô gián giết cha trở thành ác nghiệp hỗ trợ cho quả của ác nghiệp giết mẹ càng nặng thêm. Vấn: Tại sao ác nghiệp tà kiến cố định có tội nặng hơn 5 ác nghiệp vô gián? Đáp: Ác nghiệp tà kiến cố định (niyatamicchādiṭṭhikamma) có tội nặng hơn 5 ác nghiệp vô gián (pañcānantariya-kamma) là vì người có tà kiến cố định là người hoàn toàn không tin nghiệp và quả của nghiệp. Họ không tin rằng: * Những thiện nghiệp có khả năng cho quả an lạc trong kiếp hiện tại và nếu có cơ hội thì thiện nghiệp sẽ cho quả tái sinh những kiếp sau trong các cõi thiện dục giới: Cõi người, các cõi trời dục giới, cõi trời sắc giới, cõi trời vô sắc giới. Nếu Siêu tam giới thiện nghiệp đó là 4 Thánh Đạo thì cho 4 Thánh Quả tương ứng không có thời gian ngăn khoảng cách, cùng trong Thánh Quả lộ trình tâm (Maggavīthicitta). * Những bất thiện nghiệp (ác nghiệp) cho quả khổ trong kiếp hiện tại và nếu có cơ hội thì bất thiện nghiệp sẽ cho quả tái sinh những kiếp sau trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh). Do không tin nghiệp và quả của nghiệp, nên họ có thể làm mọi bất thiện nghiệp (ác nghiệp). Khi đã tạo ác nghiệp xong, họ không biết hổ thẹn tội lỗi, không biết ghê sợ tội lỗi, không biết ăn năn sám hối tội lỗi của mình. Cho nên, họ vẫn tiếp tục tạo mọi ác nghiệp. Còn người đã tạo ác nghiệp vô gián do năng lực phiền não, về sau họ biết hổ thẹn tội lỗi, biết ghê sợ tội lỗi, biết ăn năn sám hối tội lỗi của mình. Bởi vì, họ có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, nên họ cố gắng tạo mọi dục giới đại thiện nghiệp cho đến hết tuổi thọ. Người ấy sau khi chết, tuy ác nghiệp vô gián cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục, nhưng nhờ thiện nghiệp kìm hãm, làm suy giảm tiềm năng cho quả của ác nghiệp ấy. 1. 2 Thiện Nghiệp Trọng Yếu Thiện nghiệp trọng yếu có 2 loại: a- Sắc giới thiện nghiệp có 5 loại. b- Vô sắc giới thiện nghiệp có 4 loại. a) Sắc giới thiện nghiệp Sắc giới thiện nghiệp có 5 loại, đó là tác ý tâm sở đồng sinh với 5 sắc giới thiện tâm, mà 5 sắc giới thiện tâm đó là 5 bậc thiền hữu sắc. * 5 bậc thiền hữu sắc 1- Đệ nhất thiền hữu sắc có 5 chi thiền là hướng tâm, quan sát, hỷ, lạc và định. 2- Đệ nhị thiền hữu sắc do nhờ diệt được chi thiền hướng tâm, còn lại 4 chi thiền là quan sát, hỷ, lạc và định. 3- Đệ tam thiền hữu sắc do nhờ diệt được chi thiền quan sát, còn lại 3 chi thiền là hỷ, lạc và định. 4- Đệ tứ thiền hữu sắc do nhờ diệt được chi thiền hỷ, còn lại 2 chi thiền là lạc và định. 5- Đệ ngũ thiền hữu sắc do nhờ thay đổi chi thiền lạc bằng chi thiền xả, nên cũng có 2 chi thiền là xả và định. Đó là 5 bậc thiền hữu sắc đối với hành giả thuộc hạng mandapuggala có trí tuệ trung bình. Đối với hành giả thuộc hạng tikkhapuggala có trí tuệ sắc bén, nhanh nhẹn, thiền hữu sắc chỉ có 4 bậc như sau: * 4 bậc thiền hữu sắc 1- Đệ nhất thiền hữu sắc có 5 chi thiền là hướng tâm, quan sát, hỷ, lạc và định. 2- Đệ nhị thiền hữu sắc do nhờ diệt được 2 chi thiền hướng tâm và quan sát cùng một lúc, còn lại 3 chi thiền là hỷ, lạc và định. 3- Đệ tam thiền hữu sắc do nhờ diệt được chi thiền hỷ, còn lại 2 chi thiền là lạc và định. 4- Đệ tứ thiền hữu sắc do nhờ thay đổi chi thiền lạc bằng chi thiền xả, nên cũng có 2 chi thiền là xả và định. Thiền hữu sắc tính theo 5 bậc thiền hoặc tính theo 4 bậc thiền khác nhau ở đệ nhị thiền hữu sắc như sau: – Đối với hành giả có trí tuệ bậc trung (mandapuggala), thực hành thiền định có khả năng chứng đắc đệ nhất thiền hữu sắc có 5 chi thiền là hướng tâm, quan sát, hỷ, lạc và định. Hành giả tiếp tục phát triển thiền định, do nhờ diệt được chi thiền hướng tâm, nên chứng đắc đến đệ nhị thiền hữu sắc, còn 4 chi thiền là quan sát, hỷ, lạc và định… – Đối với hành giả có trí tuệ bậc thượng (tikkhapuggala), thực hành thiền định có khả năng chứng đắc đệ nhất thiền hữu sắc có 5 chi thiền là hướng tâm, quan sát, hỷ, lạc và định giống như hành giả có trí tuệ bậc trung. Nhưng hành giả tiếp tục thiền định, do nhờ diệt được 2 chi thiền hướng tâm và quan sát cùng một lúc, nên chứng đắc đệ nhị thiền hữu sắc, còn lại 3 chi thiền là hỷ, lạc và định… Do đó, thiền hữu sắc tính 5 bậc thiền hữu sắc hoặc tính 4 bậc thiền hữu sắc như vậy. * Quả của 5 hoặc 4 sắc giới thiện nghiệp: 5 bậc thiền hữu sắc thiện tâm đó là 5 sắc giới thiện tâm có quả là 5 sắc giới quả tâm. Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền hữu sắc thiện tâm, từ đệ nhất thiền sắc giới thiện tâm cho đến đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm; và có khả năng giữ gìn và duy trì đủ 5 bậc thiền sắc giới thiện tâm ấy cho đến lúc lâm chung. Sau khi hành giả chết, thì chỉ có đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm sinh quả là đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới đệ tứ thiền, có 7 cõi, tùy theo hạng người và tùy theo năng lực của đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm ấy như sau: – Nếu hành giả là hạng phàm nhân, bậc Thánh Nhập Lưu và bậc Thánh Nhất Lai, thì đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm cho quả tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới Quảng Quả Thiên, có tuổi thọ 500 đại kiếp trái đất. – Nếu hành giả là hạng phàm nhân, khi chứng đắc đến đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm do năng lực tâm nhàm chán danh uẩn (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn); sau khi hành giả chết, thì đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm không làm phận sự cho quả tái sinh kiếp kế tiếp mà sắc pháp gọi là jīvitanavakakalāpa (nhóm sắc pháp có sắc mạng chủ là thứ 9) làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới Vô Tưởng Thiên. Vị Phạm thiên này chỉ có nhất uẩn là sắc uẩn mà thôi, không có 4 danh uẩn (thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn), có tuổi thọ cũng 500 đại kiếp trái đất. – Nếu hành giả là bậc Thánh Bất Lai chứng đắc các bậc thiền hữu sắc thiện tâm, từ đệ nhất thiền sắc giới thiện tâm cho đến đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm; thì chỉ có đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới Phước Sinh Thiên, có 5 cõi tùy theo năng lực của 5 pháp chủ (tín pháp chủ, tấn pháp chủ, niệm pháp chủ, định pháp chủ, tuệ pháp chủ) từ thấp đến cao như sau: - Tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi Vô Phiền Thiên do năng lực của tín pháp chủ, có tuổi thọ 1.000 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi Vô Nhiệt Thiên do năng lực của tấn pháp chủ, có tuổi thọ 2.000 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi Thiện Hiện Thiên do năng lực của niệm pháp chủ, có tuổi thọ 4.000 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi Thiện Kiến Thiên do năng lực của định pháp chủ, có tuổi thọ 8.000 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi Sắc Cứu Cánh Thiên do năng lực của tuệ pháp chủ, có tuổi thọ 16.000 đại kiếp. Như vậy nếu hành giả chứng đắc đủ 5 bậc thiền sắc giới thiện tâm, sau khi hành giả chết, chỉ có đệ ngũ thiền sắc giới quả tâm cao nhất làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp 1 trong 7 cõi mà thôi. Còn lại 4 bậc thiền sắc giới thiện tâm bậc thấp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. – Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền hữu sắc thiện tâm từ đệ nhất thiền sắc giới thiện tâm cho đến đệ tứ thiền sắc giới thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì chỉ có đệ tứ thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới đệ tam thiền, có 3 cõi, tùy theo năng lực của bậc thiền ấy như sau: - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Thiểu Tịnh Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc hạ, có tuổi thọ 16 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Vô Lượng Tịnh Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc trung, có tuổi thọ 32 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Biến Tịnh Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc thượng, có tuổi thọ 64 đại kiếp. Còn lại 3 bậc thiền hữu sắc bậc thấp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. – Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền hữu sắc thiện tâm từ đệ nhất thiền sắc giới thiện tâm, đệ nhị thiền sắc giới thiện tâm cho đến đệ tam thiền sắc giới thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì đệ nhị thiền sắc giới quả tâm và đệ tam thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới đệ nhị thiền có 3 cõi, tùy theo năng lực của bậc thiền ấy như sau: - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Thiểu Quang Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc hạ, có tuổi thọ 2 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Vô Lượng Quang Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc trung, có tuổi thọ 4 đại kiếp. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Quang Âm Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc thượng, có tuổi thọ 8 đại kiếp. Còn đệ nhất thiền hữu sắc trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. – Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới thiện tâm, sau khi hành giả chết, đệ nhất thiền sắc giới quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời sắc giới đệ nhất thiền có 3 cõi, tùy theo năng lực của bậc thiền ấy như sau: - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Phạm Chúng Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc hạ, có tuổi thọ 1/3 a-tăng-kỳ kiếp trụ trái đất. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Phạm Phụ Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc trung, có tuổi thọ 1/2 a-tăng-kỳ kiếp trụ trái đất. - Tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng Đại Phạm Thiên do năng lực 5 pháp chủ bậc thượng, có tuổi thọ 1 a-tăng-kỳ kiếp trụ trái đất. b) Vô sắc giới thiện nghiệp Vô sắc giới thiện nghiệp có 4 loại, đó là tác ý tâm sở đồng sinh với 4 vô sắc giới thiện tâm, mà 4 vô sắc giới thiện tâm là 4 bậc thiền vô sắc: * Trường hợp hành giả thực hành thiền định, sau khi đã chứng đắc 5 bậc thiền hữu sắc xong, rồi tiếp tục thực hành thiền định có khả năng chứng đắc 4 bậc thiền vô sắc tuần tự như sau: - Đệ nhất thiền vô sắc thiện tâm, gọi là không vô biên xứ thiền thiện tâm có 2 chi thiền: Xả và định. - Đệ nhị thiền vô sắc thiện tâm, gọi là thức vô biên xứ thiền thiện tâm có 2 chi thiền: Xả và định. - Đệ tam thiền vô sắc thiện tâm, gọi là vô sở hữu xứ thiền thiện tâm có 2 chi thiền: Xả và định. - Đệ tứ thiền vô sắc thiện tâm, gọi là phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền thiện tâm có 2 chi thiền: Xả và định. 4 bậc thiền vô sắc thiện tâm này đều có 2 chi thiền xả và định giống nhau, nhưng đối tượng của mỗi bậc thiền là hoàn toàn khác nhau. * Quả của 4 vô sắc giới thiện nghiệp: - Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền vô sắc thiện tâm từ không vô biên xứ thiền thiện tâm cho đến phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì chỉ có phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên tột đỉnh, có tuổi thọ lâu dài nhất trong tam giới 84.000 (tám mươi bốn ngàn) đại kiếp trái đất. Còn lại 3 vô sắc giới thiện nghiệp bậc thấp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. - Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền vô sắc thiện tâm từ không vô biên xứ thiền thiện tâm cho đến vô sở hữu xứ thiền thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì chỉ có vô sở hữu xứ thiền quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời Vô Sở Hữu Xứ Thiên, có tuổi thọ 60.000 (sáu mươi ngàn) đại kiếp trái đất. Còn lại 2 vô sắc giới thiện nghiệp bậc thấp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. - Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc các bậc thiền vô sắc thiện tâm từ không vô biên xứ thiền thiện tâm cho đến thức vô biên xứ thiền thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì chỉ có thức vô biên xứ thiền quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời Thức Vô Biên Xứ Thiên, có tuổi thọ 40.000 (bốn mươi ngàn) đại kiếp trái đất. Còn lại không vô biên xứ thiền thiện nghiệp trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. - Nếu hành giả thực hành thiền định có khả năng chứng đắc không vô biên xứ thiền thiện tâm, sau khi hành giả chết, thì không vô biên xứ thiền quả tâm làm phận sự tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời Không Vô Biên Xứ Thiên, có tuổi thọ 20.000 (hai mươi ngàn) đại kiếp trái đất. Sự khác biệt giữa Ác Nghiệp Trọng Tội với Thiện Nghiệp Trọng Yếu * Ác nghiệp trọng tội có 2 loại: Ác nghiệp tà kiến cố định và ác nghiệp vô gián. Trong 2 loại ác nghiệp trọng tội này, nếu người nào đã tạo 1 hay nhiều ác nghiệp trọng tội này, sau khi người ấy chết, thì chỉ có ác nghiệp trọng tội nặng nhất cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci mà thôi. Ác nghiệp trọng tội còn lại trở thành ác nghiệp hỗ trợ (upathambhakakamma) giúp cho quả của ác nghiệp trọng tội càng nặng thêm nữa. * Thiện nghiệp trọng yếu có 2 loại: 5 sắc giới thiện nghiệp và 4 vô sắc giới thiện nghiệp. Trong 2 loại thiện nghiệp trọng yếu này, nếu hành giả nào có khả năng chứng đắc nhiều bậc thiền, sau khi hành giả chết, thì chỉ có thiện nghiệp trọng yếu cao nhất cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp kế tiếp trong tầng trời phạm thiên cõi sắc giới hoặc cõi vô sắc giới, tương ứng với bậc thiền sở đắc của hành giả mà thôi. Thiện nghiệp trọng yếu (các bậc thiền bậc thấp) còn lại trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma) vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. Đó là sự khác biệt giữa ác nghiệp trọng tội và thiện nghiệp trọng yếu. Trong 4 loại nghiệp theo tuần tự cho quả nhất định, nếu không có loại nghiệp trọng yếu (garukakamma), thì loại nghiệp cận tử (āsannakamma) có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. 2- Āsannakamma: Nghiệp Cận Tử Thế nào gọi là nghiệp cận tử? Nghiệp nào phát sinh lúc gần lâm chung, nghiệp ấy gọi là nghiệp cận tử (āsannakamma) đó là 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp) và 8 dục giới đại thiện nghiệp. * Nghiệp cận tử có 2 loại: 2. 1 Bất thiện nghiệp (ác nghiệp) cận tử (akusala āsanna-kamma) đó là 12 bất thiện nghiệp. 2. 2 Thiện nghiệp cận tử (kusala āsannakamma) đó là 8 dục giới đại thiện nghiệp. 2. 1 Nghiệp cận tử phát sinh lúc gần lâm chung, có 2 trường hợp: a) Trường hợp thứ nhất: Thiện nghiệp, ác nghiệp tưởng nhớ trong lúc lâm chung Āsanne anussaritaṃ āsannaṃ: Thiện nghiệp nào hoặc bất thiện nghiệp (ác nghiệp) nào mà người bệnh tưởng nhớ trong lúc lâm chung, sau đó không lâu người ấy chết, thiện nghiệp hoặc bất thiện nghiệp (ác nghiệp) ấy có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau (paṭisandhikāla), tùy theo quả của nghiệp ấy. * Tưởng nhớ đến thiện nghiệp lúc lâm chung: Một người đã từng tạo thiện nghiệp nào đó trong kiếp hiện tại đã từ lâu không còn nhớ nữa, nhưng đến lúc lâm chung, tự mình hồi tưởng đến phước thiện ấy, hoặc có người thân bên cạnh nhắc nhở để nhớ đến phước thiện ấy. Phước thiện ấy gọi là thiện nghiệp được hồi tưởng lại lúc lâm chung. Sau đó người bệnh ấy chết, chính thiện nghiệp ấy có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người hoặc cõi trời dục giới) hưởng mọi sự an lạc trong cõi ấy cho đến hết tuổi thọ. Ví dụ: Ông A đã từng cùng chung với các thí chủ khác làm phước thiện lễ dâng y kathina đến chư Tỳ khưu Tăng tại một ngôi chùa. Thời gian đã trải qua nhiều năm, ông A không còn nhớ đến phước thiện lễ dâng y kathina ấy nữa. Nghe tin ông A đang lâm bệnh nặng trầm trọng, ông B vốn là người bạn thân thiết đến thăm ông A. cũng là người đã cùng chung với ông A làm phước thiện lễ dâng y kathina năm xưa. Nhân dịp này, ông B nhắc lại cho ông A nhớ lại phước thiện lễ dâng y kathina đến chư Tỳ khưu Tăng năm xưa tại ngôi chùa ấy. Lắng nghe ông B nhắc đến phước thiện ấy, ông A liền phát sinh thiện tâm hồi tưởng lại phước thiện của buổi lễ dâng y kathina ấy, nên phát sinh thiện tâm vô cùng hoan hỷ trong phước thiện ấy. Sau đó không lâu ông A từ trần. Sau khi chết, chính thiện nghiệp mà ông A hồi tưởng lại lúc lâm chung ấy có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ. Đó là tưởng nhớ thiện nghiệp lúc lâm chung. * Tưởng nhớ đến ác nghiệp lúc lâm chung: Ví dụ: Vị Tỳ khưu trẻ trong thời kỳ Đức Phật Kassapa, một hôm đi thuyền trên dòng sông Gangā, nước chảy xiết, vị Tỳ khưu trẻ nắm lấy lá sả làm đứt lá sả bên bờ sông (nếu phạm giới thì chỉ phạm giới nhẹ thôi). Sau đó vị Tỳ khưu trẻ không có cơ hội gặp một vị Tỳ khưu khác để sám hối āpatti. Về sau, vị Tỳ khưu trẻ không còn nhớ đến việc làm đứt lá sả ấy nữa. Suốt cuộc đời xuất gia hành phạm hạnh của vị Tỳ khưu ấy, thời gian trải qua 20.000 (hai mươi ngàn) năm, trong thời kỳ Đức Phật Kassapa. Đến lúc lâm chung, hiện tượng hình ảnh lá sả hiện ra trong tâm, vị Tỳ khưu hồi tưởng lại thời kỳ quá khứ xa xưa ấy đã từng làm đứt lá sả mà chưa có cơ hội sám hối āpatti. Ngay lúc đó, muốn sám hối āpatti ấy, nhưng không có vị Tỳ khưu nào tại đó. Cho nên vị Tỳ khưu ăn năn về lỗi của mình, tự cho mình giới không trong sạch. Do đó, sau khi tịch, ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả tái sinh làm Long vương có tên là Erakapattanāgarājā [11]: Long vương Erakapatta (lá sả), từ thời kỳ Đức Phật Kassapa cho đến thời kỳ Đức Phật Gotama xuất hiện trên thế gian, vẫn chưa thoát khỏi kiếp Long vương. Đó là tưởng nhớ ác nghiệp lúc lâm chung. b) Trường hợp thứ nhì: Thiện nghiệp, ác nghiệp được tạo trong lúc lâm chung Āsanne kataṃ āsannaṃ: Thiện nghiệp nào hoặc ác nghiệp nào mà người bệnh tạo trong lúc lâm chung, thì thiện nghiệp hoặc ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau, tùy theo quả của nghiệp ấy. * Thiện nghiệp được tạo trong lúc lâm chung: Ví dụ: Tích sư phụ của Ngài Đại đức Soṇa [12] Ngài Đại đức Soṇa ở tại ngôi chùa Acelavihāra dưới chân núi Soṇagiri. Thân phụ của Ngài hành nghề săn bắn thú rừng để nuôi mạng. Ngài đã khuyên thân phụ từ bỏ nghề săn bắn thú rừng, rồi hành nghề lương thiện khác nuôi mạng, nhưng thân phụ của Ngài đã quen với nghề này vả lại không biết nghề khác, cho nên ông vẫn tiếp tục hành nghề ấy. Đến lúc tuổi già sức yếu, thân phụ của Ngài không thể hành nghề săn bắn thú rừng được nữa. Ngài Đại đức Soṇa khuyên thân phụ xuất gia trở thành Tỳ khưu. Sau khi trở thành Tỳ khưu, sư phụ của Ngài vì tuổi già sức yếu, khi thực hành thiền định, hoặc thực hành thiền tuệ, tâm vẫn chưa được ổn định. Khi bị lâm bệnh nặng trầm trọng, trước lúc lâm chung, sư phụ của Ngài thấy những hiện tượng ác nghiệp sát sinh trong thời quá khứ hiện ra trong tâm, làm cho sư phụ của Ngài kinh hoảng kêu la, nhờ Ngài Đại đức Soṇa xua đuổi. Ngài Đại đức Soṇa nghĩ rằng: “Nếu sư phụ tịch (chết) trong lúc này, chắc chắn ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả thì khó tránh khỏi tái sinh trong cõi địa ngục, ta phải tìm cách hóa giải đối tượng xấu của ác nghiệp ấy”. Ngài Đại đức Soṇa bảo vị Sadi đem lại cho Ngài một ít cành hoa, và nhờ người khiêng chiếc gường sư phụ của Ngài nằm đem lên đặt trên nền ngôi Bảo Tháp, rồi Ngài trao những cành hoa để cho sư phụ cúng dường đến ngôi Bảo Tháp, và xin sư phụ đem hết lòng thành kính bạch rằng: – Kính bạch Đức Thế Tôn, đây là những cành hoa, lễ vật mọn của con, con đem hết lòng thành kính dâng lên Đức Thế Tôn. Xin sư phụ phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Thế Tôn, nơi Đức Pháp và nơi Đức Tăng, Tam Bảo. Sư phụ đã làm theo sự hướng dẫn của Ngài. Thật phi thường! Ngay khi ấy, đối tượng xấu của ác nghiệp kia biến mất, thay bằng đối tượng những cảnh đẹp ở trên cõi trời, lâu đài nguy nga, những thiên nữ hiện ra hầu hạ sư phụ của Ngài. Sư phụ của Ngài cảm thấy vô cùng hoan hỷ thốt lên rằng: – Các cô thiên nữ đã đến rồi! Nghe vậy, Ngài Đại đức Soṇa nghĩ rằng: “Cõi trời dục giới đã hiện ra với sư phụ rồi”. Sau khi sư phụ của Ngài tịch, nhờ thiện nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh làm vị thiên nam trong cõi trời dục giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy cho đến hết tuổi thọ ở nơi ấy. Đó là thiện nghiệp được tạo lúc lâm chung. * Ác nghiệp được tạo lúc lâm chung: Ví dụ: Ông A đã thù hận ông B từ lâu. Một hôm, ông A gặp ông B, hai người cãi lộn, gây gỗ lẫn nhau. Ông A tức giận đánh ông B, ông B lấy dao đâm ông A bị thương nặng rồi chết. Sau khi ông A chết, ác nghiệp thù hận có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh), chịu quả khổ của ác nghiệp ấy, cho đến lúc mãn quả của ác nghiệp ấy. Đó là ác nghiệp thù hận được tạo trong lúc lâm chung. Hoặc những người đang uống rượu, các chất say, hoặc đang say mê trong sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc thỏa thích… với tâm tham. Ngay khi ấy bị xảy ra tai nạn rồi chết đột ngột. Sau khi chết, ác nghiệp ấy có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu quả khổ của ác nghiệp ấy, cho đến lúc mãn quả của ác nghiệp ấy. Đó là ác nghiệp tham được tạo trong lúc lâm chung. Hoặc người có tà kiến, khi người ấy bị lâm bệnh nặng trầm trọng, sai bảo người khác giết gà, giết heo… cúng thần để cho mau khỏi bệnh, nhưng chẳng may, người bệnh đến thời kỳ hết tuổi thọ hoặc mãn thiện nghiệp hỗ trợ nên phải chết. Trước lúc chết người ấy có tà kiến, dị đoan mê tín đã tạo ác nghiệp sát sinh, cho nên sau khi chết, ác nghiệp tà kiến ấy có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu quả khổ của ác nghiệp ấy. Đó là ác nghiệp tà kiến được tạo trong lúc lâm chung. Trong 4 loại nghiệp theo tuần tự cho quả nhất định, nếu không có loại nghiệp trọng yếu (garukakamma) và cũng không có loại nghiệp cận tử (āsannakamma) thì loại nghiệp thường hành (āciṇṇakamma) có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau.
3- Āciṇṇakamma: Nghiệp Thường Hành Thế nào gọi là nghiệp thường hành? Ācīyati punappunaṃ karīyatīti āciṇṇaṃ: Nghiệp nào mà người luôn luôn hành, thường được tích lũy hoài hoài, nghiệp ấy được gọi là nghiệp thường hành, đó là 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp), và 8 dục giới đại thiện nghiệp. * Nghiệp thường hành có 2 loại:
3. 1 Bất thiện nghiệp (ác nghiệp) thường hành (akusala āciṇṇakamma), đó là 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp). 3. 2 Thiện nghiệp thường hành (kusala āciṇṇakamma), đó là 8 dục giới đại thiện nghiệp. 3. 1 Bất thiện nghiệp (ác nghiệp) thường hành Người thường tạo bất thiện nghiệp (ác nghiệp) bằng thân, bằng khẩu, bằng ý hằng ngày để nuôi mạng hoặc không phải để nuôi mạng, bất thiện nghiệp (ác nghiệp) ấy gọi là bất thiện nghiệp (ác nghiệp) thường hành. Ví dụ: Người dân chài làm nghề đánh cá, người làm nghề giết gà, giết vịt, giết heo, giết bò… để bán thịt; người làm nghề buôn bán rượu và các chất say v.v… là những người thường tạo bất thiện nghiệp bằng thân, bằng khẩu, bằng ý. Đó là ác nghiệp thường hành. Hay một trường hợp đặc biệt khác: Một người đã tạo bất thiện nghiệp nào đó, tuy chỉ có một lần, nhưng ác nghiệp cứ ám ảnh trong tâm của người ấy, luôn luôn làm cho tâm ân hận, nóng nảy, khổ tâm, khổ thân. Đó cũng là ác nghiệp thường hành. Nếu một người không có ác nghiệp trọng tội, cũng không có ác nghiệp cận tử trong lúc lâm chung, sau khi người ấy chết, thì chắc chắn ác nghiệp thường hành có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) chịu quả khổ của ác nghiệp ấy cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy. 3. 2 Thiện nghiệp thường hành Người cận sự nam, người cận sự nữ là những người có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, nên thường hay làm phước thiện bố thí đến những người khác, thường hay làm phước thiện cúng dường những thứ vật dụng đến chư Tỳ khưu, Sadi… Họ là những người giữ gìn ngũ giới trong sạch và trọn vẹn, thọ trì bát giới uposathasīla trong những ngày giới hằng tháng, là những người thường hay thực hành pháp hành thiền định, thực hành pháp hành thiền tuệ, vẫn còn thuộc về dục giới đại thiện nghiệp, và hoan hỷ tạo mọi thiện nghiệp khác. Vị Sadi giữ gìn mọi giới của Sadi được trong sạch và trọn vẹn, thực hành đầy đủ 14 pháp hành, thường hay thực hành pháp hành thiền định, thực hành pháp hành thiền tuệ, vẫn còn thuộc về dục giới đại thiện nghiệp. Vị Tỳ khưu giữ gìn mọi giới của Tỳ khưu được trong sạch và trọn vẹn, thực hành 14 pháp hành, thực hành pháp hành thiền định, thực hành pháp hành thiền tuệ, vẫn còn thuộc về dục giới đại thiện nghiệp. Đó là thiện nghiệp thường hành. Hay một trường hợp đặc biệt khác: Một người đã tạo thiện nghiệp nào đó, tuy chỉ có một lần, nhưng đặc biệt ghi nhớ không quên thiện nghiệp ấy, cứ mỗi lần niệm tưởng đến thiện nghiệp ấy thì thiện tâm phát sinh và tăng trưởng nhiều, thiện tâm cảm thấy vô cùng hoan hỷ nơi thiện nghiệp ấy. Đó cũng là thiện nghiệp thường hành. Nếu một người không có thiện nghiệp trọng yếu và không có thiện nghiệp cận tử trong lúc lâm chung, sau khi người ấy chết, thì chắc chắn thiện nghiệp thường hành có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người, cõi trời dục giới) hưởng được quả an lạc của thiện nghiệp ấy cho đến mãn quả của thiện nghiệp ấy. Trong 4 loại nghiệp theo tuần tự cho quả nhất định, nếu không có loại nghiệp trọng yếu (garukakamma), cũng không có loại nghiệp cận tử (āsannakamma), và cũng không có loại nghiệp thường hành (āciṇṇakamma), thì nghiệp loại thường (kaṭattākamma) có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Nhận xét về nghiệp cận tử và nghiệp thường hành Nếu xét về năng lực của nghiệp thì nghiệp cận tử không thể có nhiều năng lực hơn nghiệp thường hành, bởi vì nghiệp cận tử được phát sinh trong khoảng thời gian ngắn ngủi lúc lâm chung, còn nghiệp thường hành đã được tạo và được tích lũy trong khoảng thời gian lâu dài trong kiếp hiện tại. Do đó, nghiệp thường hành có nhiều năng lực hơn nghiệp cận tử. Tuy nghiệp cận tử có ít năng lực hơn nghiệp thường hành, nhưng nếu nghiệp cận tử này phát sinh lúc lâm chung có khả năng đem lại 1 trong 3 hiện tượng là nghiệp (kamma) hoặc hiện tượng của nghiệp (kammanimitta) hoặc hiện tượng cảnh giới tái sinh (gatinimitta) làm đối tượng trong lộ trình tâm cận tử (maraṇāsannavīthicitta) thì nghiệp cận tử này có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Ví dụ: Trong chuồng bò, nếu có con bò yếu đứng gần cổng chuồng, người chăn bò mở cổng chuồng, thì con bò yếu đi ra cổng trước các con bò lực lưỡng khác. Cũng như vậy, nghiệp cận tử tuy có ít năng lực hơn nghiệp thường hành nhưng nghiệp cận tử được phát sinh trong lúc sắp lâm chung, cho nên, sau khi chết, nghiệp cận tử có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Do đó, trong bộ Abhidhammasaṅgaha: Vi Diệu Pháp Yếu Nghĩa, giải về nghiệp theo tuần tự cho quả, Ngài Đại Trưởng Lão Anuruddha sắp đặt nghiệp cận tử trước, nghiệp thường hành sau. 4- Kaṭattākamma: Nghiệp Loại Thường Thế nào gọi là nghiệp loại thường? Kaṭattā eva kammanti kaṭattākammaṃ: Nghiệp nào mà người chỉ tạo một cách cho có tạo mà thôi, không quan tâm, không chú ý nhiều trong việc ấy, nghiệp ấy không thuộc về 3 loại nghiệp trên gọi là nghiệp loại thường (kaṭattākamma), đó là 12 bất thiện nghiệp (12 ác nghiệp), và 8 dục giới đại thiện nghiệp. Nghiệp loại thường gồm tất cả những bất thiện nghiệp (ác nghiệp), thiện nghiệp nào mà người đã tạo nghiệp ấy có ít năng lực nên không thuộc về loại nghiệp trọng yếu, cũng không phải phát sinh lúc lâm chung nên không thuộc về loại nghiệp cận tử, cũng không phải nghiệp được tạo nhiều lần thành thói quen nên không thuộc về loại nghiệp thường hành. Trong kiếp hiện tại, nghiệp loại thường này không thuộc về 3 loại nghiệp trên. Sau khi chết, nếu trường hợp không có 3 loại nghiệp trên, thì nghiệp loại thường này mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Trong những kiếp quá khứ, nghiệp loại thường này chính là bất thiện nghiệp, thiện nghiệp đã từng tích lũy trong nhiều đời nhiều kiếp. Cho nên, tất cả chúng sinh đều có nghiệp loại thường này. Ví dụ: Những thai nhi bị chết trong bụng mẹ, những đứa trẻ sơ sinh vừa mới sinh ra đời rồi bị chết, những đứa bé còn nhỏ dại chưa biết gì rồi bị chết v.v…, trong kiếp hiện tại, những thai nhi, trẻ sơ sinh v.v… chưa tạo nên bất thiện nghiệp, thiện nghiệp, cho nên, sau khi chết, nghiệp loại thường này mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi nào, thuộc chúng sinh loại nào, hoàn toàn tùy thuộc vào quả của nghiệp loại thường này. Hoặc vị Phạm thiên ở cõi trời sắc giới vô tưởng, sau khi hết tuổi thọ 500 đại kiếp trái đất, rồi phải tái sinh kiếp sau với kusala kaṭattākamma (thiện nghiệp loại thường) mà đã tích lũy nhiều kiếp trong quá khứ, kể từ tiền kiếp thứ ba trở về trước. Bởi vì, vị Phạm thiên ở cõi trời sắc giới vô tưởng thuộc về loại chúng sinh chỉ có nhất uẩn là sắc uẩn mà thôi (không có 4 danh uẩn). Như vậy, kiếp hiện tại, vị Phạm thiên ở cõi trời sắc giới vô tưởng không có tâm, cho nên hoàn toàn không tạo nên thiện nghiệp hoặc ác nghiệp, chỉ hưởng quả của đệ ngũ thiền sắc giới thiện nghiệp mà thôi. Và tiền kiếp thứ nhì về trước, hành giả thực hành thiền định đã chứng đắc đệ ngũ thiền sắc giới thiện nghiệp đã cho quả tái sinh lên cõi trời sắc giới vô tưởng xong rồi, còn lại các bậc thiền sắc giới thiện nghiệp bậc thấp đều trở thành nghiệp vô hiệu quả, không còn có khả năng cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Do đó, sau khi vị Phạm thiên ấy hết tuổi thọ 500 đại kiếp trái đất tại cõi trời sắc giới vô tưởng rồi, kusala kaṭattākamma (thiện nghiệp loại thường) mà đã tích lũy từ tiền kiếp thứ 3 trở về trước có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người, cõi trời dục giới). Tính Chất 4 Loại Nghiệp Theo Tuần Tự Cho Quả 4 loại nghiệp theo tuần tự cho quả: 1- Nghiệp trọng yếu 2- Nghiệp cận tử 3- Nghiệp thường hành 4- Nghiệp loại thường Mỗi loại nghiệp có bất thiện nghiệp và thiện nghiệp. * 4 loại ác nghiệp theo tuần tự cho quả: 1- Ác nghiệp trọng tội có 2 loại - 3 ác nghiệp tà kiến cố định - 5 ác nghiệp vô gián 2- Ác nghiệp cận tử 3- Ác nghiệp thường hành 4- Ác nghiệp loại thường Trong các loại ác nghiệp này, chỉ có ác nghiệp tà kiến cố định là nặng nhất mà thôi, các ác nghiệp còn lại từ nặng xuống nhẹ giảm dần theo tuần tự. * Nếu người nào có đủ các ác nghiệp này, thì sau khi người ấy chết, chỉ có ác nghiệp tà kiến cố định có quyền ưu tiên hàng đầu, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu quả khổ trong cõi địa ngục này lâu dài, khó có thể mãn hạn. Bởi vì, chúng sinh này không tin nghiệp và quả của nghiệp. * Nếu người nào không có ác nghiệp tà kiến cố định, mà có ác nghiệp vô gián (giết cha, giết mẹ, giết bậc Thánh Arahán, làm bầm máu bàn chân của Đức Phật và chia rẽ chư Tỳ khưu Tăng), thì sau khi người ấy chết, chỉ có ác nghiệp vô gián ấy có quyền ưu tiên hàng đầu, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp kế tiếp trong cõi đại địa ngục Avīci, chịu quả khổ thiêu đốt trong cõi đại địa ngục này lâu dài, cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát ra khỏi cõi đại địa ngục ấy. * Nếu người nào không có ác nghiệp tà kiến cố định, và cũng không có ác nghiệp vô gián, mà có ác nghiệp cận tử đặc biệt phát sinh trong lúc lâm chung, thì sau khi người ấy chết, ác nghiệp cận tử ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) tùy theo năng lực quả của ác nghiệp ấy, rồi chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy. * Nếu người nào không có ác nghiệp tà kiến cố định, không có ác nghiệp vô gián, cũng không có ác nghiệp cận tử đặc biệt phát sinh trong lúc lâm chung, mà có ác nghiệp thường hành, thì sau khi người ấy chết, ác nghiệp thường hành ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) tùy theo năng lực quả của ác nghiệp ấy, rồi chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy. * Nếu người nào không có ác nghiệp tà kiến cố định, không có ác nghiệp vô gián, không có ác nghiệp cận tử, cũng không có ác nghiệp thường hành, chỉ có ác nghiệp loại thường, thì sau khi người ấy chết, ác nghiệp loại thường ấy mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi ác giới tùy theo năng lực quả của ác nghiệp ấy, rồi chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy. * Trường hợp thai nhi nằm trong bụng mẹ, trẻ sơ sinh vừa mới ra đời, trẻ con còn nhỏ dại chưa có thể tạo ác nghiệp nào trong kiếp hiện tại; nếu chúng bị chết, thì chỉ có nghiệp loại thường (kaṭattākamma) đã tích lũy từ nhiều kiếp trong quá khứ mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Nếu ác nghiệp loại thường (akusala kaṭattākamma) cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau, thì tái sinh trong cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sinh) tùy theo năng lực quả của ác nghiệp ấy, rồi chịu quả khổ cho đến khi mãn quả của ác nghiệp ấy, mới thoát khỏi cõi ác giới ấy. * 4 loại thiện nghiệp theo tuần tự cho quả: 1- Thiện nghiệp trọng yếu có 2 loại - Vô sắc giới thiện nghiệp - Sắc giới thiện nghiệp 2- Thiện nghiệp cận tử 3- Thiện nghiệp thường hành 4- Thiện nghiệp loại thường Trong 4 loại thiện nghiệp này, chỉ có thiện nghiệp trọng yếu có năng lực bậc nhất, cho nên, thiện nghiệp trọng yếu này có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trước tiên, 3 thiện nghiệp còn lại có tầm quan trọng giảm dần theo tuần tự. Thiện nghiệp trọng yếu có 2 loại: 4 vô sắc giới thiện nghiệp và 5 sắc giới thiện nghiệp. Trong 2 loại thiện nghiệp này, 4 vô sắc giới thiện nghiệp có nhiều năng lực nhất nên có quyền ưu tiên, có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trước tiên. * 4 vô sắc giới thiện nghiệp ở trong 4 bậc thiền vô sắc thiện tâm. Nếu hành giả chứng đắc 4 bậc thiền vô sắc thiện tâm, thì bậc thiền vô sắc phi tưởng phi phi tưởng xứ thiện tâm là tột đỉnh. Cho nên, sau khi hành giả chết chỉ có bậc thiền vô sắc phi tưởng phi phi tưởng xứ thiện nghiệp có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi trời vô sắc Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên có tuổi thọ 84.000 đại kiếp trái đất, thời gian lâu dài nhất trong các cõi vô sắc giới. 3 bậc thiền vô sắc thiện nghiệp còn lại trở thành nghiệp vô hiệu quả (ahosikamma), vĩnh viễn không còn có cơ hội cho quả của chúng được nữa. * 5 sắc giới thiện nghiệp ở trong 5 bậc thiền sắc giới thiện tâm. Nếu hành giả không chứng đắc 4 bậc thiền vô sắc thiện tâm, mà chỉ chứng đắc 5 bậc thiền sắc giới thiện tâm, thì đệ ngũ thiền sắc giới thiện tâm là bậc thiền sắc giới cao nhất, có nhiều năng lực nhất. Cho nên, sau khi hành giả chết, chỉ có đệ ngũ thiền sắc giới thiện nghiệp có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi trời sắc giới đệ tứ thiền có 7 tầng, tùy theo hạng người và tùy theo năng lực của bậc thiền ấy. * Nếu người nào không có 4 vô sắc giới thiện nghiệp, cũng không có 5 sắc giới thiện nghiệp, mà chỉ có thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, thì sau khi người ấy chết, chính thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung ấy có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người hoặc cõi trời dục giới) tùy theo năng lực quả của thiện nghiệp ấy. * Nếu người nào không có 4 vô sắc giới thiện nghiệp, cũng không có 5 sắc giới thiện nghiệp, cũng không có thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, mà chỉ có thiện nghiệp thường hành, thì sau khi người ấy chết, chính thiện nghiệp thường hành ấy có cơ hội ưu tiên cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người hoặc cõi trời dục giới) tùy theo năng lực quả của thiện nghiệp ấy. * Nếu người nào không có 4 vô sắc giới thiện nghiệp, cũng không có 5 sắc giới thiện nghiệp, cũng không có thiện nghiệp phát sinh lúc lâm chung, cũng không có thiện nghiệp thường hành, mà chỉ có thiện nghiệp loại thường, thì sau khi người ấy chết, chính thiện nghiệp loại thường ấy mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người hoặc cõi trời dục giới) tùy theo năng lực quả của thiện nghiệp ấy. Như trường hợp thai nhi nằm trong bụng mẹ, trẻ sơ sinh vừa mới ra đời, trẻ con còn nhỏ dại chưa có thể tạo thiện nghiệp nào trong kiếp hiện tại. Nếu chúng bị chết, sau khi chết, thì chỉ có thiện nghiệp loại thường (kaṭattākamma) đã tích lũy từ nhiều kiếp trong quá khứ mới có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau trong cõi thiện dục giới (cõi người hoặc cõi trời dục giới) tùy theo năng lực quả của thiện nghiệp ấy. Và đặc biệt trong cõi trời sắc giới vô tưởng, vị Phạm thiên hết tuổi thọ 500 đại kiếp, sau khi chết, chính thiện nghiệp loại thường này cho quả tái sinh trong cõi thiện dục giới: Cõi người hoặc cõi trời dục giới Đó là 4 loại thiện nghiệp theo tuần tự cho quả căn cứ vào năng lực của thiện nghiệp ấy. 4 nghiệp theo tuần tự cho quả theo bộ Visuddhimagga và bộ Chú giải Aṅguttaranikāya Trong bộ Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) và bộ Chú giải Aṅguttaranikāya (Chú giải Kinh Chi Bộ) trình bày sắp đặt về 4 nghiệp theo tuần tự cho quả như sau: 1- Nghiệp trọng yếu (garukakamma) 2- Nghiệp được tạo nhiều lần (bahulakamma) 3- Nghiệp cận tử (āsannakamma) 4- Nghiệp loại thường (kaṭattākamma) Trong bộ Chú giải Thanh Tịnh Đạo và bộ Chú giải Kinh Chi Bộ có giải thích rằng: “Tuy nghiệp cận tử là nghiệp phát sinh trong lúc lâm chung, nhưng không phải lúc nào cũng có khả năng, có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau được”. Ví dụ: Trường hợp nghiệp cận tử có ít năng lực quá yếu, không có khả năng đem lại 1 trong 3 hiện tượng: Nghiệp (kamma) hoặc hiện tượng của nghiệp (kammanimitta) hoặc hiện tượng cảnh giới tái sinh (gatinimitta) làm đối tượng trong lộ trình tâm cận tử (maraṇāsannavīthicitta), thì nghiệp cận tử không có khả năng cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau được. Khi ấy nghiệp được tạo nhiều lần (nghiệp thường hành) có nhiều năng lực, có khả năng đem lại 1 trong 3 hiện tượng: Nghiệp (kamma) hoặc hiện tượng của nghiệp (kamma-nimitta) hoặc hiện tượng cảnh giới tái sinh (gatinimitta) làm đối tượng trong lộ trình tâm cận tử (maraṇāsannavīthicitta). Cho nên, sau khi chết, do nghiệp được tạo nhiều lần (nghiệp thường hành) ấy có quyền ưu tiên, có cơ hội cho quả trong thời kỳ tái sinh kiếp sau. Do đó, Chú giải bộ Thanh Tịnh Đạo và bộ Chú giải Kinh Chi Bộ trình bày, sắp đặt nghiệp được tạo nhiều lần (bahulakamma) tương đương với nghiệp thường hành (āciṇṇa kamma) trước nghiệp cận tử theo tuần tự cho quả của nghiệp. [1] Cõi thiện dục giới là cõi người, cõi trời dục giới [2] Cõi ác giới là cõi điạ ngục, cõi atula, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh [3] M. Mū. Kinh Vatthasutta [4] Pavattikāla:Thời kỳ sau khi đã tái sinh cho đến trước lúc chết, đó là kiếp sống hiện tại [5] Phỏng theo tích Uttarāupāsikā trong bộ chú giải Dhammapadāṭṭhakathā [6] Tóm lược từ tích Uttarā upāsikā trong bộ Chú giải Dhammapadaṭṭhakathā [7] 12 bất thiện nghiệp (ác nghiệp) đó là tâm sở tác ý đồng sinh trong 8 tâm tham, trong 2 tâm sân và trong 2 tâm si [8] 21 thiện nghiệp đó là tâm sở tác ý đồng sinh trong 8 dục giới đại thiện tâm, 5 sắc giới thiện tâm, 4 vô sắc giới thiện tâm và 4 Siêu tam giới thiện tâm (4 Thánh Đạo Tâm) [9] Bộ Dhammapadaṭṭhakathā, tích Devadattavatthu [10] Bộ Chú giải Dhammapadaṭṭhakathā tích Devadattavatthu [11] Bộ Chú giải Dhammapadaṭṭhakathā tích Erakapattanāgarājāvatthu [12] M.U. Bahudhātukasuttavaṇṇanā -ooOoo- Ðầu trang | Mục lục | 4.1 | 4.2 | 4.3 | 4.4 | 4.5 | 4.6 | 4.7 |
Chân thành cám ơn Tỳ khưu Hộ Pháp đã gửi tặng bản vi tính (Bình Anson, 06-2009)
[Trở về
trang Thư Mục]
last updated: 23-06-2009